Are you the publisher? Claim or contact us about this channel


Embed this content in your HTML

Search

Report adult content:

click to rate:

Account: (login)

More Channels


Channel Catalog


older | 1 | .... | 18 | 19 | (Page 20) | 21 | 22 | .... | 27 | newer

    0 0
    0 0

    NGŨ HỔ TƯỚNG QUÂN LỰC VNCH

    nguvituong
    NGŨ HỔ TƯỚNG QUÂN LỰC VNCH
    Ơn Tổ Quốc Trọn Tình – Sinh Vi Tướng Nghĩa Dân Quân Vẹn Tiết – Tử Vi Thần
    Chết mà vì nước, chết vì dân,
    Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
    Chết buổi Đông Chu, hồn thất quốc,
    Chết như Tây Hán lúc tam phân.
    Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
    Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần.
    Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
    Chết mà vì nước, chết vì dân.”
    (Sào Nam PHAN BỘI CHÂU)
    Giở lại những trang sử chiến đấu dũng mãnh và hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhân tưởng niệm ngày 30-04, là ngày nước Việt Nam Cộng Hòa thôi tồn tại, chúng tôi muốn kể lại cho các bạn trẻ Việt Nam công nghiệp chiến đấu và những giây phút chói chang cuối cùng của những vị thần tướng làm rạng danh nước Nam trên trường quốc tế: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
    Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hậu duệ của dòng họ Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ tổ từ đời này sang đời nối tiếp đều có công trạng giúp Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, mà điểm dừng là mũi Cà Mau. ược hun đúc từ truyền thống ấy, Thiếu Tướng Nam thuở còn ở tuổi học sinh siêng năng chăm học, rất hiếu thảo với cha mẹ, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho học. Người cũng rất say mê hội họa, âm nhạc và giỏi về nhạc lý. Sau này khi đã trở thành vị tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và rồi lên Tư Lệnh Quân Đoàn IV Quân Khu IV người nổi tiếng là vị tướng từ ái, thương lính yêu dân, rất được quân và dân Miền Tây kính trọng và yêu thương. Mỗi lần Thiếu Tướng Nam bay đến các tiểu khu (tỉnh) hay các đơn vị chiến trường nào, ông cũng đều không muốn làm phiền thuộc cấp vì chuyện ăn uống. Lắm lúc ông chỉ cần vài trái bắp luộc là đã xong cho một bữa trưa. Nếu ở Bộ Tư Lệnh thì người luôn luôn xuống Câu Lạc Bộ cùng dùng cơm với các sĩ quan, có gì ăn nấy. Là một Phật tử thuần thành, Thiếu Tướng Nam ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố gắng tôn trọng những giới cấm, tránh sát giới nhưng vẫn chu toàn bổn phận của một người lính chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Bà con thân hữu đến thăm ông thì được, nhưng để xin ân huệ hay nhờ vả đều nhận được sự từ chối thẳng thắn. Cuộc sống của người quá giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa, không gì hết, đơn giản đến mức trở thành huyền thoại.
    Tướng Dương Văn Minh, người được Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa bỏ phiếu đa số chấp thuận lên nắm quyến Tổng Thống vỏn vẹn mới có ba ngày đã vội vã ra lệnh toàn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng thôi chiến đấu từ 10 giờ sáng ngày 30.04.1975.
    Dưới Quân Khu IV (Miền Tây) các tướng lãnh của quân ta nào đâu chịu đầu hàng một cách nhục nhã như vậy. Đại cuộc không thành, thành mất thì tướng phải tuẫn tiết theo thành. Thiếu Tướng Nam lên xe đi vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thăm những chiến hữu thương binh của người lần cuối cùng. Mối thương cảm vận nước đến hồi đen tối, chiến hữu gãy súng và thương phế binh chắc chắn sẽ bị quân địch tàn nhẫn đuổi ra nằm lê la trên hè phố bụi đất với những vết thương còn lở lói và rướm máu, đã làm cho đôi mắt của người sưng húp lên. Đến tối Thiếu Tướng Nam quay trở về dinh Tư Lệnh nằm bên bờ con sông Cái Khế và nhận được tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó quân Khu IV đã nổ súng tuẫn tiết trong văn phòng tại trại Lê Lợi. Đến nửa đêm, Thiếu Tướng Nam trân trọng vận bộ lễ phục trắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với ngù vai, dây biểu chương, huy chương các loại gắn trên ngực áo, nghiêm chỉnh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế sau bàn Tư Lệnh. Rồi người đưa khẩu Browning lên bắn vào màng tang, đầu người gục xuống về phía trái. Ngày hôm sau, các sĩ quan còn ở lại Bộ Tư Lệnh đã đứng nghiêm chào người anh hùng rồi an táng thi thể người trong Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thơ. Trong đầu năm 1994, thân nhân của Thiếu Tướng Nam đã xuống Cần Thơ bốc mộ, hỏa thiêu và mang tro cốt đem về thờ trong chùa Gia Lâm trên đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, Sài Gòn.
    ———–
    Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV; Quân Khu IV đã tự sát trong văn phòng Tư Lệnh Phó tại Trại Lê Lợi nằm trên đường Hòa Bỉnh, Cần Thơ, trước Thiếu Tướng Nam vài tiếng đồng hồ. Tên tuổi của Chuẩn Tướng Hưng được biết đến từ khi ông còn là một sĩ quan chiến đấu trên chiến trường Miền Tây và được xưng tụng là một trong những con mãnh hổ dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ chức vụ Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, ông được điều động lên Quân Khu III làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh và được vinh thăng Chuẩn Tướng chỉ vài tháng trước khi chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa nổ lớn tại An Lộc trong năm 1972. Định mệnh đã chọn Chuẩn Tướng Hưng làm người tử thủ An Lộc và đánh thắng đến bốn sư đoàn địch, vang danh quân sử Việt Nam và chiến sử thế giới. Hình ảnh dũng cảm và quen thuộc mà chiến sĩ tử thủ An Lộc ngưỡng mộ người Tư Lệnh của họ, là chiến sĩ Lê Văn Hưng đầu đội nón sắt, quần lính, áo thun màu ô liu, tay xách cây M16 như bất cứ một người lính khinh binh nào, làm việc 24/24 giờ một ngày bên chiếc đèn vàng mù mờ ánh sáng, hay ra chiến hào khích lệ tinh thần binh sĩ và tỉ mỉ giảng giải cách sử dụng súng chống chiến xa M72 để bắn xe tăng địch.
    Dưới sự chăm sóc và chỉ huy của Thiếu Tướng Nam và Chuẩn Tướng Hưng, Quân Đoàn IV gồm các Sư Đoàn 7, 9 và 21 Bộ Binh đã đem lại những ngày an bình cho người dân Miền Tây. Hai vị Tướng đã là một cặp chiến binh kiệt xuất tạo nên bức tường thành vững chắc cho Quân Khu IV. Cho đến cái ngày oan nghiệt 30.04.1975, hai vị Tướng nhiều lần nhận được lời đề nghị khẩn thiết của người Mỹ muốn giúp hai vị và gia đình di tản sang Hoa Kỳ, nhưng cả hai vị Tướng đã khẳng khái từ chối. Cho đến 4 giờ chiều cùng ngày, hai vị Thiếu Tướng còn cố liên lạc với các đơn vị hỏi xem có nhận được lệnh hành quân và phóng đồ bố trí chiến đấu chưa. Tất cả đều trả lời không. Hóa ra viên đại tá được giao trọng trách chuyển lệnh đã bỏ trốn mất. Hai vị Tướng tức uất thở than cho vận nước. Danh từ đầu hàng từ đầu cho đến tàn cuộc chiến rất xa lạ với người chiến sĩ QLVNCH. Chuẩn Tướng Hưng vẫn với bộ quân phục tác chiến bộ binh màu ô liu trở lại văn phòng Tư Lệnh Phó gặp lại vợ con nói lời vĩnh biệt và ân cần khuyên nhủ bà Chuẩn Tướng phu nhân gắng cắn răng sống nuôi con, dạy dỗ con nên người, nói cho chúng biết về người cha đã chết như thế nào cho tổ quốc. Người cũng trân trọng từ biệt các chiến hữu:
    “Tôi không bỏ các anh để đưa vợ con ra ngoại quốc. Tôi cũng không thể chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi tôi có rầy la. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu có.”
    Những người lính ôm lấy lá cờ vàng và cây súng thân thương vào lòng khóc nức nở. Họ biết giây phút vĩnh biệt người chủ tướng đã điểm. Chuẩn Tướng Hưng cố xô đẩy đuổi mọi người ra ngoài, bình thản đóng kín cửa văn phòng lại. Có tiếng súng nổ chát chúa từ bên trong vọng ra. Bà Hưng và các chiến hữu phá cửa xông vào. Chuẩn Tướng Hưng nằm ngã người tựa vào giường nửa trên nửa dưới, hai cánh tay dang ra và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn, đôi mắt còn mở to uất hờn. Người đã bắn vào tim để tỏ rõ tiết tháo một người Tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Máu từ trong tim người thấm ướt mảng áo ngực và loang ra đỏ thắm tấm drap trắng. Thời điểm người anh hùng thăng thiên đúng 8 giờ 45 tối ngày 30.04.1975. Khoảng 11 giờ khuya, Thiếu Tướng Nam gọi điện qua chia buồn. Bà Thiếu Tướng Hưng nghe rõ tiếng thở dài của người Tư Lệnh phía bên kia đầu dây…
    ————-
    Trong cái ngày đau buồn ấy, tại bệnh viện Grall (Đồn Đất) Sài Gòn, người ta đưa vào thi hài của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II, một chiến binh mà các cấp bậc đi lên đều được trao gắn vinh thăng tại mặt trận. Thiếu Tướng Phú đã uống thuốc độc chết cùng với vận nước.
    Từ cái ngày người bị trọng thương và sa vào tay giặc ở Điện Biên Phủ tháng 05.1954, rồi được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa sau ngày ký Hiệp Định Geneva 20.07.1954, Thiếu Tướng Phú đã thề với lòng là người thà chết chứ không chịu nhục nhã lọt vào tay giặc một lần nữa. Lời thề ấy người đã giữ trọn, người chết đi mang theo một nỗi hận mất nước và một nỗi oan khuất về cuộc triệt thoái Quân Khu II không mong muốn. Còn nhớ tại trận Điện Biên Phủ, toàn tiểu đoàn của Đại Úy Phú chỉ còn có 100 tay súng mà phải ngăn chống một số lượng quân địch đông gấp hai mươi lần, ông dẫn quân lên đánh cận chiến với địch và giành lại được hơn 100 thước chiến hào. Đại Úy Phú và một số các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn đều bị đạn địch quật ngã và một vài giờ sau đó bị sa vào tay giặc. Trong thời gian bị giặc bắt làm tù binh, bệnh phổi của Đại Úy Phú tái phát và ông mang bệnh lao. định mệnh vẫn còn muốn cho người anh hùng được sống, để tiếp tục chiến đấu cống hiến nhiều hơn nữa cho nền tự do của tổ quốc, sau tháng 07.1954 Đại Úy Phú được trả về cho Việt Nam Cộng Hòa. Vị Tướng mảnh khảnh người, khuôn mặt xương nhưng có cái bắt tay mềm mại ấm áp ấy đã nhanh chóng trở thành một trong những vị Tướng xuất sắc nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lần lượt đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Miền Tây, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, và sau hết Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II. Chính là ở vị thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm vóc quốc gia, mà đã vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của ông. Người ta cho rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột là do lỗi thiếu phán đoán của Thiếu Tướng Phú. Người ta chỉ có thể dùng quân luật và quân lệnh để bắt buộc Thiếu Tướng Phú thi hành lệnh rút quân, thậm chí đặt ông vào tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe ngay trong ngày 14.03.1975, hai ngày trước khi Quân Đoàn II rút quân ra khỏi cao nguyên. Thiếu Tướng Phú đau lòng theo dõi các mũi tiến quân của địch, như những vết dầu loang nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của mình cũng co ngắn lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đã tràn ngập khắp phố phường Sài Gòn trong ngày 30.04.1975, người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống độc dược, để tỏ rõ ý chí bất khuất của người làm Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục được tiết tháo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
    —————
    Một trong những hồi ức rất đẹp và rất hào hùng mà Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ còn để lại trong chiến sử Việt Nam, là lúc ông cầm khẩu súng chống chiến xa M72 nhoài người lên khỏi hầm chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc bắn cháy một chiếc T54 chạy lần quầng sát một bên, trong lúc Chuẩn Tướng Hưng đã thủ sẵn một trái lựu đạn trong tay để cùng chết với quân địch. Đại Tá Vỹ đích thực là một khuôn mặt lừng lẫy của Miền Đông khi ông về phục vụ dưới cờ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh từ năm 1968.
    Đại Tá Vỹ nổi danh là một chiến binh quả cảm, một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và chỉ huy. Sau chiến thắng An Lộc, Đại Tá Vỹ được đề bạt lên làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ Binh, cho đến gần cuối năm 1974, sau một khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp bên Hoa Kỳ về, cái ghế và văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đang chờ đợi ông, cùng với chiếc lon mới Chuẩn Tướng. Chuẩn Tướng Vỹ dưới con mắt nể trọng của chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, là một vị chỉ huy siêng năng và đáng kính. Người nổi tiếng thanh liêm và chống tham nhũng, bản tính của người bộc trực và dễ nổi nóng trước cái ác và cái xấu. Một số sĩ quan trong sư đoàn làm chuyện càn quấy, ăn chận trên xương máu của chiến sĩ đều bị người trừng trị thẳng cánh. Chuẩn Tướng Vỹ là một trong những vị Tướng hiếm hoi có tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào mọi sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ. Người ta nhìn thấy ở ông một tinh thần tự lực cánh sinh và có nhiều sáng kiến khi phải đương đầu với những vấn đề khó khăn. Về mặt quân sự, người có một tầm nhìn chiến lược rất bao quát và thường hay bày tỏ với các sĩ quan tham mưu:
    “Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh mình ngoài này mà sẽ tìm cách len lỏi đi thẳng về Sài Gòn”.
    Sự phán đoán đó về sau đã hoàn toàn đúng. Một quân đoàn Bắc Việt không giao chiến với Sư Đoàn 5 Bộ Binh, mà tìm cách len lỏi xuyên qua những điểm bố trí của sư đoàn, hối hả tiến về Sài Gòn để dứt điểm Tướng Dương Văn Minh. Sáng ngày 30.4.1975 họp tham mưu sư đoàn xong, Chuẩn Tướng Vỹ và toàn ban sĩ quan ngồi bên chiếc máy thu thanh chờ nghe Tướng Minh đọc nhật lệnh quan trọng. Trong thâm tâm Chuẩn Tướng Vỹ, người cứ tưởng là Tướng Minh sẽ kêu gọi toàn quân chiến đấu đến cùng, hoặc di tản về Miền Tây tiếp tục đánh. Thực chất chỉ là một bản nhật lệnh ngắn ngủi, khô khan, kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó và chờ binh đội cộng quân đến bàn giao.
    Chuẩn Tướng Vỹ nghiến răng miễn cưỡng ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đã mời các sĩ quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông. Nhìn khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của vị Tư Lệnh, các sĩ quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết để bảo toàn danh dự người làm Tướng, nên họ đã khéo léo giấu hết súng. Bữa cơm vĩnh biệt được dọn ra, những hạt cơm trắng ngần trong khoảnh khắc đó dường như có vị mặn của máu và cứng ngắc như những hạt sỏi. Mọi người còn đang dùng cơm thì Chuẩn Tướng Vỹ bỗng bỏ ra ngoài đi nhanh về hướng chiếc trailer dùng làm văn phòng tạm cho Tư Lệnh. Các sĩ quan kinh hoàng nghe hai tiếng nổ đanh gọn phát ra từ chiếc trailer. Mọi người hối hả chạy ùa tới mở cửa thì thấy Chuẩn Tướng Vỹ nằm trên vũng máu và người đã thực sự ra đi, trên tay còn cầm khẩu Beretta 6.35 mà mọi người không nhớ là nó còn nằm trong chiếc trailer. Chuẩn Tướng Vỹ đã bắn vào phía dưới cằm, đạn đi trổ lên đầu. Khi các sĩ quan và binh đội cộng sản vào tiếp quản doanh trại. sĩ quan sư đoàn cao cấp của địch đã nghiêng mình kính phục khí tiết của Chuẩn Tướng Vỹ và nói: “Đây mới xứng đáng là con nhà Tướng.”
    Các chiến sĩ sư đoàn chuyển thi thể vị chủ tướng ra an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lệnh. Ít lâu sau, thi thể Chuẩn Tướng Vỹ lại được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, Sài Gòn. Năm 1987, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ lặn lội vào Nam hỏa thiêu hài cốt của người anh hùng và đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại quê nhà ở tỉnh Sơn Tây.
    —————
    Cũng với tấm lòng của những người mẹ thương con bao la mênh mông như đại dương, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng còng còm cõi với thời gian, đã mưu trí gạt được quân cộng đang tràn ngập trong căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đem được thi thể vị Tư Lệnh về Gò Vấp mai táng. Bà rưng rưng nước mắt nghẹn ngào nhận gói di vật của con bà từ tay một vị Trung U¨y thuộc cấp, trong đó có một vài vật dụng cá nhân và số tiền hai tháng lương khiêm nhường của Chuẩn Tướng là 70.000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi ra đi người còn cố gửi về cho mẹ số tiền nhỏ bé đó. Lúc còn sống Chuẩn Tướng Hai nổi tiếng là vị Tướng thanh liêm, cuộc đời thanh đạm không có của cải vật chất gì đáng kể, ngoài chiếc xe Jeep của quân đội cấp cho, thì khi người ra đi, người chỉ để lại cho hậu thế thanh danh thần tướng cùng tấm lòng sắt son đối với dân tộc và tổ quốcTài năng của Chuẩn Tướng Hai được xác định bằng những chức vụ quan trọng trong hệ thống quốc gia như Tỉnh Trưởng Phú Yên, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II; Quân Khu II, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Đảm nhiệm những chức vụ cao tột như vậy mà người vẫn sống một cuộc sống bình dị, nghiền ngẫm kinh Phật, trên tay lúc nào cũng thấy những loại sách học hỏi khác nhau. Chuẩn Tướng Hai cũng nổi tiếng là vị Tướng thương yêu và chăm lo cho đời sống chiến binh các cấp dưới quyền hết mực, thậm chí coi thường cả mạng sống. Như câu chuyện đã trở thành huyền thoại về Đại Tá Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, đầu năm 1968 đã cùng vài sĩ quan đáp phi cơ C123 ra tận chiến trường Khe Sanh và nhảy xuống, lặn lội ra tận từng chiến hào tiền tuyến thăm hỏi khích lệ chiến sĩ Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời của địch.
    Năm 1974 định mệnh đã đưa Chuẩn Tướng Hai về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh để tên tuổi của người lưu tại nghìn thu trong sử sách, bằng cái chết hào hùng mà đã làm địch quân kinh hoàng.
    Trước ngày 30.04.1975 chừng hơn một tuần, đích thân Tổng Thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn Tướng Hai di tản, mặc dù Chuẩn Tướng Hai không phải là người thân cận hay thuộc phe phái của ông Thiệu, điều đó cho thấy uy tín của người rất lớn. Chuẩn Tướng Hai thẳng thắn từ chối và cương quyết ở lại sống chết với chiến hữu của ông. Chuẩn Tướng Hai trong ngày cuối cùng vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục tác chiến ngồi trong văn phòng Tư Lệnh chờ quân địch đến. Người ôn tồn khuyên bảo sĩ quan và chiến binh thuộc cấp trở về với gia đình, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của họ. Vì họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao căn cứ Đồng Tâm, hoặc nếu có bàn giao thì cái phương thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng. Một con người đã từng chiến đấu bảo vệ đất nước hơn hai mươi năm, không lý do gì người giao lại cho địch một cách dễ dàng. Khoảng xế trưa, một đơn vị cộng quân thận trọng tiến vào Đồng Tâm và nhỏ nhẹ đề nghị xin được tiếp quản căn cứ. Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn, bên trên có hai cái đế nhỏ gắn lá Cờ Vàng Việt Nam và lá cờ Tướng một sao, nghiêm nghị đòi hỏi một viên sĩ quan sư đoàn trưởng đến gặp ông. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác. Tình hình rất căng thẳng, hai bên giương súng ghìm nhau. Mãi lâu sau mới có một người gõ của xin vào rụt rè tự nhận là sư đoàn trưởng. Chuẩn Tướng Hai bất ngờ rút súng lục ra nổ mấy phát vào viên sĩ quan địch. Với khoảng cách rất gần đó, ông có thể giết chết đối phương dễ dàng, nhưng ông chỉ bắn ông này bị thương nhẹ phải bỏ chạy ra ngoài. Để cho địch biết, rằng muốn chiếm được nước Nam thì họ phải trả một cái giá nào đó. Chiều tối cùng ngày, Chuẩn Tướng Hai đã uống thuốc độc tự sát trong văn phòng Tư Lệnh.
    Những người anh hùng của dân tộc Việt Nam, những chiến sĩ dũng mãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, suốt đời tận tụy với nước non, đã hiến dâng cho tổ quốc những giọt máu đỏ thắm tinh khôi cuối cùng của mình.
    Tên tuổi và tấm gương chiến đấu của những vị Thần Tướng ấy mãi mãi lưu lại trong sử sách Việt Nam và được dân tộc Việt Nam ngàn đời phụng thờ hương khói..
    Phạm Phong Dinh
    Image


    0 0

    KHÔNG AI BIẾT HỌ LÀ NGƯỜI  NGU NẾU HỌ BIẾT IM  LẶNG


    Kim Âu


    Tấm khăn đen bịt mắt tử tội

    Hiệp định Paris 27-1-1973





    Những ngày cuối năm 2012, trang web BBC đưa tin tập đoàn Bắc Bộ Phủ tiến hành lễ kỷ niệm 40 năm "Điện Biên Phủ trên không" qua đó cũng nhắc đến Hiệp Định Paris  1973 Về Việt Nam được ký kết hơn ba tuần sau khi chiến dịch Linebacker II chấm dứt.


    Đọc những bài văn sặc mùi tuyên truyền tổng hợp từ những bài viết tạp nham trên báo Việt Cộng ở miền Bắc từ mấy chục năm trước và những bản tin trong nước đăng trên trang mạng, người ta đều nhận thấy hiện trạng bế tắc, tiến thối lưỡng nan, thù bạn khó biết trong chính trị, ngoại giao và quân sự của tập đoàn cộng sản Bắc Bộ Phủ hiện nay.


    Những bài báo này kéo chúng tôi trở lại với quá khứ, khoảng 40 năm về trước,  khi chúng tôi còn đầu xanh tuổi trẻ, ngồi đọc những bài báo nói về “trận Điện Biên Phủ trên không” trên tờ Nhân Dân trong lúc đang “học tập trao đổi trao trả”, lòng đầy thù hận, xăm soi từng dòng chữ để tìm cách suy diễn nhằm củng cố lý luận cho phù hợp với thực tế rồi lại trăn trở chờ đợi tin đình chiến ở trại sơ tán Tân Lập, Vĩnh Phú.


    Thời gian tiếp theo, những người tù binh VNCH và Mỹ ở Bắc Việt đã đón tin đình chiến vào ngày 27 tháng giêng năm 1973, dĩ nhiên là với hy vọng tràn trề nhưng niềm vui bột phát rồi chững lại vì những bất trắc khôn lường khi còn nằm trong đất giặc vẫn phải đối diện đủ thứ mưu mô tráo trở, hèn hạ của bọn cộng sản…


    Sau khi di chuyển từ trại Tân Lập về trại Hà Tây, tình cờ hội ngộ với ông Nguyễn văn Đãi, Đại Biểu Hành Chánh vùng I Chiến Thuật, anh Bảo Lộc Phó Tỉnh Trưởng Thừa Thiên vài ngày rổi cùng chuyển vào trại Ba Sao được hơn tuần, bản thân tôi lập tức phải trả giá cho những hành động chống đối ngấm ngầm lẫn công khai trong quá khứ mấy năm tù tội.


    Chiều 30 tết năm Nhâm Tý (1972- 1973), sau khi hiệp định vừa ký gần tuần lễ, đoàn công tác của Bộ Nội Vụ VC ra lệnh tách tôi khỏi nhóm tù tứ xứ mới tập hợp về trại Ba Sao, Kim Bảng, Nam Hà đưa đi biệt giam. Nằm tại khu vực cấm cố biệt lập ngay trên ngọn đồi nhìn xuống nhà kho trại Ba Sao. Tôi đọc đi, đọc lại toàn văn điều khoản (8a) trong Hiệp Định Paris nói về trao trả; theo dõi việc thực hiện qua hình ảnh những đợt phi công Mỹ được hồi hương ở Gia Lâm đăng trên báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân của VC, rồi tự trấn an bằng cách cố gắng tưởng tượng ra một tương lai lạc quan nhất cho bản thân. Nhưng chuyện đó đã không bao giờ xảy ra. Thay vì trở lại cùng với những bạn tù, được trả về với chính thể VNCH; tôi được bọn VC đày lên một vùng cao nguyên, cao nhất nước Việt Nam, cao hơn mực nước biển đến mấy nghìn mét thuộc vùng Tây Côn Lĩnh, Hà Giang - trại Cổng Trời –.

    Đây là một trường hợp trắng trợn duy nhất, cộng sản tung ra một đòn chí tử phủ chụp tâm hồn, tư tưởng và thể xác của người tù đơn độc ở miền Bắc.. nhằm đè bẹp ý chí phản kháng của những người tù còn lại.


    Đình chiến mà không được trao trả thì những người tù binh chỉ còn chờ chết dần, chết mòn trong vô vọng.Và sự thật chúng tôi đã chết theo mệnh nước, chết theo thể chế VNCH ngày 30-4-1975. Nhưng trong sự đổ vỡ kinh hoàng, con người cũ đã tái sinh để cùng chia sẻ một hành trình mới khổ nhục và đau đớn của một dân tộc bị phản bội….


    Cách đây mười năm, nhân dịp 30 năm Hiệp Định Paris về Việt Nam chúng tôi đã viết trong bài “Không Thề Nào Quên” với đoạn kết như sau:


    “Bao nhiêu gian khổ, nhục hình đã qua từ ngày đó. Hiệp Ðịnh Paris về Việt Nam chẳng có chút hiệu lực nào đến với anh em Gián Ðiệp Biệt Kích chúng tôi.

    Và tất cả những nhận biết của chúng tôi về bản Hiệp Ðịnh này đều thông qua những trích đoạn trong một số bài đăng trên báo Nhân Dân và Quân Ðội Nhân Dân của bọn Cộng Sản nhằm vu khống và bêu riếu chế độ Việt Nam Cộng Hòa....

    Sau này, khi ra khỏi trại giam rồi qua đến Hoa Kỳ. Nghiên cứu kỹ lưỡng nhiều tài liệu được giải mật và những văn tự của Hiệp Ðịnh cùng với những biến động thực tế của lịch sử. Tôi nhận thấy quả tình Hiệp Ðịnh này là một vết nhơ không thể bôi xóa và cũng là một cái nhục cho các quốc gia đã ký vào bản Ðịnh Ước.

    Trong bốn bên ký kết bản Hiệp Ðịnh ngày 27 - 1 - 1973 ngày hôm nay chỉ còn hai.

    Hiệp định Paris về Việt Nam!

    Ðó là kết thúc đáng buồn cho những lời cam kết, hứa hẹn của Hoa Kỳ sau khi đã tìm đủ mọi cách, kể cả sát hại Tổng Thống Ngô Ðình Diệm để nhằm mục đích đưa quân vào chiến đấu tại Việt Nam.

    Tiến sĩ Henry Kissinger, như người ta thường ca tụng là một nhà ngoại giao lỗi lạc nhưng thật ra theo tôi, hắn chỉ là một thứ thuyết khách mạt hạng nhất tự cổ chí kim.

    Ngoại giao mà đi thương thuyết để rồi xóa bỏ hết thành quả xương máu của hơn 58.000 quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh để bảo vệ thành trì của thế giới tự do. Ðó là chưa kể đến tính mạng của những quân nhân các nước Ðồng Minh khác và hàng triệu quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa.

    Ðấu trí mà không hiểu rõ đối phương đến nỗi hậu quả là cho tới ngày hôm nay còn chưa biết rõ tông tích bao nhiêu người Mỹ bị giữ làm con tin không trao trả.

    Thương thuyết để bức tử cả một quốc gia đồng minh thừa quyết tâm chống Cộng như Việt Nam Cộng Hòa để chiều theo ý đối phương như vậy nếu nói là tài năng xuất sắc thì ắt hẳn cần phải xem xét lại....

    Henry Kissinger cùng “ê kíp “cầm quyền tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ và bọn phản chiến thuở ấy đã vay một món nợ “Máu và Danh Dự” không biết bao giờ mới trả lại được cho dân tộc Việt Nam chứ đừng nói rằng chúng ta phải thọ ơn họ.


    Gần ba thập kỷ đổ xương máu để chặn đứng làn sóng Ðỏ tại Ðông Nam Á là chiến công vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Chính sự sụp đổ của chúng ta đã trở thành bài học giúp cho các quốc gia trên thế giới thấy rõ giá trị của Ý Thức Hệ Tự Do để kịp thời củng cố, tồn tại và chiến thắng cộng sản.

    Chính dân tộc Việt Nam đã chịu nạn cho Thế Giới và cứu rỗi cho Nhân Loại...

    Mặc dù cơn sóng dữ đã làm vỡ đập nhưng sức của cơn lũ đã yếu không còn bao nhiêu tác hại.


    Sau Nixon, tổng thống Reagan có tạo nên nhiều biến đổi về chiến lược dẫn tới sự sụp đổ của khối Cộng nhưng cho đến nay dân tộc Việt Nam vẫn còn chìm đắm trong kiếp sống mông muội dưới sự cai trị hà khắc của Cộng Sản.

    Hầu như Việt Nam ngày nay đã trở thành một quá khứ, một món nợ không ai còn muốn nhắc tới..... nhưng Cuộc Chiến Tranh Việt Nam đã đi vào lịch sử.... Món nợ lịch sử vẫn còn đó. Thất bại ở Việt Nam là thất bại của Chủ Nghĩa Thực Dụng Phản Trắc của Hoa Kỳ mà dân tộc Việt Nam chính là nạn nhân.

    Hiệp Ðịnh Paris về Việt Nam là một kết thúc Không Có Hòa Bình và cũng Chẳng Có Danh Dự như ai đã từng cao rao.

    Thế mà vẫn có kẻ kêu đòi chúng ta phải“Tây Phương Hóa”.

    Tây phương ư ! Xin nhìn kỹ lại! Chẳng có chính nhân và cũng không có quân tử.

    Chỉ có nền văn hóa của DÂN TỘC chúng ta mới thực sự tạo ra những “kẻ sĩ “ biết trọng tín nghĩa, cương thường./.”


    Trong phạm vi một bài làm nền mỗi tuần cho tờ tuần báo Chính Nghĩa chúng tôi chỉ ngắn gọn bởi có dài dòng chi li, khúc chiết thêm bằng vô ích.


    Sau một giai đoạn ồn ào rồi lắng xuống vì những ý tưởng phi thực tế, thời gian gần đây một nhóm người lại rộ lên việc đòi khôi phục Hiệp định Paris 27-1-1973. Những nhóm người này chắc chắn mắc bệnh hoang tưởng, háo danh, hay định mưu đồ trục lợi khi họ luôn luôn tái diễn sự ngu xuẩn cũ rích qua những hành xử phường tuồng, bày vẽ ra những trò ngớ ngẩn vì những màn hề như vậy không thể đạt tới một kết quả nào.


    Công luận đã có phản ứng.. Ông Nguyễn Quốc Khải với hai bài liên tiếp đã nói lên được, chứng minh được tính chất bất khả thi, hoang tường của việc kêu gọi khôi phục Hiệp Định Paris 1973. Tiếp theo là bài của ông Lê Quế Lâm trích dẫn, tổng hợp tài liệu để dẫn chứng trường giang đại hải với kết cuộc chỉ là một sự quy trách chủ quan.


    Nếu không có bài viết của những vị này, chúng tôi cũng phải lên tiếng trong tư cách một trong những người nằm trong bóng tối lịch sử của chiến tranh Việt Nam, nạn nhân trực tiếp của sự phản bội từ tất cả các phía, đặc biệt là sự ngu dốt của những người làm trách nhiệm liên quan đến Hiệp Định Paris 1973 thuộc phía Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ.


    Đối với chúng tôi bản  Hiệp Định Paris về Việt Nam 27-1-1973 chỉ là một sản phẩm rác rưởi của lịch sử, chúng tôi sẽ viết trong phần sau, trước tiên chúng tôi xin đi vào xem xét việc thực hiện, thi hành một chương rất quan trọng của Hiệp Định Paris 1973, đó là chương ba III trích dẫn dưới đây để mọi người tham chiếu.


    TRÍCH:


    Chương III: VIỆC TRAO TRẢ NHÂN VIÊN QUÂN SỰ BỊ BẮT, THƯỜNG DÂN NƯỚC NGOÀI BỊ BẮT VÀ NHÂN VIÊN DÂN SỰ VIỆT NAM BỊ BẮT VÀ GIAM GIỮ

    Điều 8:

    a) Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói trong Điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này.

    b) Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí bảo quản mồ mả của những người bị chết, nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt và có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người còn coi là mất tích trong chiến đấu.

    c) Vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của Điều 21(b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày hai mươi tháng bảy năm một nghìn chín trăm năm mươi tư. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm điều đó trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực.


    HẾT TRÍCH


    Trong lĩnh vực chính trị , quân sự, ngoại giao xét theo thực tế của lịch sử nhân loại một Hiệp Định, Hiệp Ứơc, Hòa Ứơc  chỉ có giá trị khi cán cân lực lượng và ý chí của các phía tạm gọi là thăng bằng. Nếu có những sự việc mới nảy sinh, chi phối khiến tình trạng thăng bằng bị mất đi, đương nhiên hiệp định bị xé bỏ. Vì thế khi ký kết hiệp định việc trước tiên là chấm dứt chiến sự, rút quân theo kết ước và giải quyết vấn đề tù binh quân sự và nhân viên dân sự nhanh chóng do đây là VẤN ĐỀ VÔ CÙNG QUAN TRỌNG THỂ HIỆN TINH THẦN ĐỒNG ĐỘI VÀ Ý CHÍ ĐOÀN KẾT TRONG MỘT QUỐC GIA nhưng phía VNCH đã không làm được.



    Đại tá Nguyễn văn Thọ và nhóm sĩ quan tham mưu bị đưa ra họp báo


    Căn cứ vào thực tế lịch sử, thế chế Việt Nam Cộng Hòa từ  Tổng Thống và những người lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa, Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Quốc Phòng  QLVNCH, đã thiếu sót, đã vô trách nhiệm, bỏ rơi hoàn toàn những tù binh quân sự, dân sự của Việt Nam Cộng Hòa bị địch giam giữ ở Miền Bắc. Đối diện với kẻ thù xảo quyệt Việt Cộng những người phụ trách bàn thảo trao trả, tiếp nhận của Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ trong Uỷ Ban Liên Hiệp Bốn Bên chỉ là những chú cừu non trước đàn cáo dữ.


    Sáu mươi ngày điều 8a hiệp định về trao đổi, trao trả đang có hiệu lực, thay vì phía Việt Nam Cộng Hòa phải cử người có mặt đến Bắc Việt tìm hiểu, đòi hỏi điều tra các trại giam tù binh ở Bắc Việt, phải sưu tra để có bản danh sách tối thiếu yêu cầu đối phương đáp ứng. Mỗi khi có đợt trao trả các bên phải bàn vào chi tiết, giữ nguyên tắc công bằng như “một đổi một” không giao người nhiều cho đối phương. Số dư giữ lại phòng hờ dành cho việc khác hoặc phóng thích khi cần tuyên truyền cho mục đích nhân đạo. Nhưng thực tế tuyệt nhiên không có chỉ thấy giao nhận rất chiếu lệ. 


    Phía Việt Nam Cộng Hòa chỉ có một sự việc người thời đó cho là nổi nang, đắc ý nhất là chuyện ba anh sĩ quan “cả ngố” Phạm Huấn, Đinh Công Chất, Dương Phục trong  Ủy Ban Liên Hiệp Bốn Bên ra tận Hà Nội tham dự bưổi trao trả tù binh Hoa Kỳ, khi về đến Sài Gòn,  Phạm Huấn chụp được một vài tấm hình đăng báo, viết lách lăng nhăng vớ vẩn, chê bai thành phố Hà Nội, chuyện mà ai cũng biết từ khuya, rồi khoe việc anh ta đã ủy lạo tinh thần bằng cách tán dương một tù binh Phi Công Mỹ: (tôi đã nghiêm trang nói với họ : “Các anh là những anh hùng của nước Mỹ, các anh đã hy sinh cho sự đứng vững của VNCH và cả thế giới tự do nữa”. Người tù binh Mỹ đang xát xà bông đã đứng nghiêm chào tôi theo quân cách, những giây phút này muôn vàn xúc động.) rồi khi diễn kịch  phỏng vấn về tù binh Việt Nam Cộng Hòa đọc nguyên văn câu hỏi và câu trả lời của anh bồi bút Phạm Huấn thấy chua chát cho số phận những người tù binh Việt Nam Cộng Hòa đang nằm trong nhà tù của Việt Cộng ở Bắc Việt : (- Hồi nãy anh Phạm Huấn có nói về chuyến đi thăm anh em tù binh Mỹ ở Hỏa Lò tôi thắc mắc là ở đó có anh em quân đội mình bị bắt giữ hay không ? 

    Tôi không thấy bóng dáng một chiến hữu nào của ta bị họ giam giữ ở đó cả.) (thật sự thời gian đó ở Hỏa Lò có hai phi côngViệt Nam Cộng Hòa là Phan Thanh Vân và Nguyễn Quốc Đạt. Mấy anh cả ngố Phạm Huấn, Đinh Công Chất, Dương Phục làm sao mà biết được).


    Tất cả hoạt động của chính thể Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc đấu tranh đòi hỏi trao trả những người của quân đội và dân sự Việt Nam Cộng Hòa bị phía Bắc Việt giam cầm chỉ có thế nên xem như phía Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn thua thiệt. Bộ phận làm công tác này ngu đẩn đến nỗi lần trao trả, trao đổi tù binh nào phía Việt Nam Cộng Hòa nhận được rất ít người của mình trong khi thả tù binh Việt Cộng về đông gấp hàng chục lần.



    1200 tên Việt Cộng ác ôn đổi được có ba người của mình khiêng về trên cáng


    Thậm chí lần trao trả cuối cùng vào ngày 21/3/1973 ở sông Thạch Hãn, bên Việt Nam Cộng Hòa thả 1200 tên Việt Cộng ác ôn nhưng chỉ  nhận được có ba người của mình khiêng về trên cáng. Tổng kết việc thi hành Hiệp Định Ba Lê 1973 về trao trả nhân viên dân sự-quân sự bị bắt và giam giữ (Chương 3, điều 8, khoản a,b và c), trong 4 đợt từ ngày 12 tháng 2 năm 1973 đến ngày 7 tháng 3 năm 1973, phía chính quyền miền Nam Việt Nam Cộng Hòa đã trao trả cho phía Việt Cộng (gồm Cộng Sản Bắc Việt và bọn Cách Mạng Lâm Thời) 31.961 tên cả nam lẫn nữ (gồm 26.880 cán binh và 5.081 tù chính trị).


    Việt Cộng chỉ trao trả cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa 5.428 viên chức-quân nhân. Chúng  trắng trợn không nhận giam giữ các tù binh Biệt Kích nhẩy toán ra Bắc, những người bị bắt trong Tết Mậu Thân, tù binh Việt Nam Cộng Hòa trong chiến dịch Lam Sơn 719  Nam Lào và khắp các chiến trường quan trọng ở Miền Nam đưa ra miền Bắc.


    Thực tế cho thấy trừ một số hẩm hiu chết vì bệnh tật trong chế độ nhà tù tàn ác, mọi rợ của Việt Cộng, tất cả những người tù binh bị bỏ rơi này đều trở về sau khi miền Nam tiêu vong hàng chục năm và không có ai đầu phục cộng sản. Những người này thực sự đã bị đồng đội và chính thể Việt Nam Cộng Hòa phản bội một cách tàn nhẫn do thành phần lãnh đạo ngu xuẩn, bất tài, vô trí.


    Đấu tranh trực diện với kẻ thù qua một bản hiệp định văn ngữ minh bạch còn thua sát ván, chẳng hiểu ngày hôm nay những anh luật sư không hành nghề còn mơ mộng khôi phục Hiệp Định Paris 27-1-1973 làm gì? Trong khi đối với chúng tôi Hiệp định Paris về Việt Nam chỉ là bức tranh “hòa bình trong danh dự” giả tạo của Kissinger và Nixon vẽ ra để lừa dối dân chúng Hoa Kỳ và nhân loại. Đối với đồng minh Việt Nam Cộng Hòa thực tế cho thấy bản hiệp định này chỉ là miếng vải đen bịt mắt tử tội Việt Nam Cộng Hòa trước khi đưa lên đoạn đầu đài.


    Như chúng tôi đã nói ở phần trên: Tất cả mọi hiệp ước, hòa ước, các cam kết, định ước chỉ tồn tại, có giá trị khi cán cân lực lượng thăng bằng. Ngày nay Người Việt Hải Ngoại lấy đâu ra thực lực để sắm vai đối trọng với VC vốn tôn sùng bạo lực khủng bố, chủ xướng phát động đấu tranh giai cấp.  


    Hơn ai hết những người hiểu biết về luật pháp chưa cần là "luật gia!!!"đều hiểu rằng một sự việc muốn đạt tới thành công đòi hỏi rất nhiều điều kiện không phải chỉ riêng “TÍNH HỢP PHÁP” mà còn phải đáp ứng được tối thiểu là TÍNH HỢP LÝ.


    40 năm trước, bản Hip Đnh Paris VVit Nam “CHỈ LÀ MỘT TRÒ LỪA ĐẢO” để đạt mục đích nhất thời của Hoa Kỳ, giá trị của bản hiệp định đối với Hoa Kỳ không hơn mấy tờ giấy vệ sinh; sau khi đã dùng xong (vứt vào bồn cầu, kéo nước). Đối với nền đệ nhị Việt Nam Cộng Hòathì đó là bản án tử hình tiệm tiến. Vậy thử hỏi ngày hôm nay đám người kêu gọi đòi khôi phục lại Hiệp Định Paris 27-1-1973 có phải là quá sức ngốc nghếch hay không?


    Tại sao chúng tôi dám nói Hiệp Định Paris Về Việt Nam 27-1-1973 chỉ là một trò lừa đảo của Hoa Kỳ và Việt Cộng vì ngay trong thời gian ngắn ngủi ở bên nhau tại Ba Sao, những người thuộc Việt Nam Cộng Hòa bị Việt Cộng giam giữ đã nhìn thấy sự bất hợp lý và tính mong manh của bản Hiệp Định.


    Trong tác phẩm “Ánh Sáng và Bóng Tối” Nhà văn Hoàng Liên, bút hiệu của cụ Nguyễn văn Đãi, Đại Biểu Hành Chánh vùng I Chiến Thuật bị bắt vào Tết Mậu Thân và đưa ra Bắc đã ghi lại những ý kiến bàn bạc giữa những người tù với nhau: Tôi thấy hiệp định này bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Cứ duy trì quân đội giải phóng  miền Nam, nghĩa là quân đội miền Bắc, cho chúng đóng tại chỗ, thì chúng sẽ tiếp tục phá hoại….…. hiệp định này chỉ là giải pháp tạm thời……tình hình sẽ trở nên phức tạp……ký kết hiệp định là một việc, tôn trọng hiệp định là một việc khác….. Mình bắt của chúng nó khá nhiều người. Chúng nó phải thả người của chúng ta về, chúng ta mới thả người của chúng nó……


    Những ý kiến đấy cho thấy Hiệp định Paris về Việt Nam là một bản hiệp định đáng phỉ nhổ mà phía Việt Nam Cộng Hòa đã ký vào. Quá đủ rồi các vị lãnh đạo thối tha của Việt Nam Cộng Hòa còn sống sót và những luật gia chuyên nghề nói phét. Nếu quý ngài chỉ cần nghĩ được như những người tù Việt Nam Cộng Hòa ở Bắc Việt năm 1973. Chưa chắc 30 – 4- 1975  Việt Cộng đã vào được Sài Gòn.


     


    Việc quốc gia đại sự, tranh quyền cướp nước, quyết định sống chết, vinh nhục của hàng triệu gia đình, là sự tồn vong của cả một đất nước, dân tộc mà hoàn toàn do ngoại bang quyết định cho thấy Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia mất tự chủ, lệ thuộc vào ngoại bang để tồn tại thì thành phần lãnh đạo chỉ là một lũ tay sai.

    Trong cuộc chiến ở Việt Nam cả hai tập đoàn lãnh đạo ở Miền Bắc cũng như Miền Nam đều là những tập đoàn thừa sai của các thế lực quốc tế.  Hiển nhiên nếu không có vũ khí của Mỹ và Nga Sô, Trung Cộng thì người Việt Nam chỉ có thể giết nhau bằng súng hỏa mai, thần công "uống thuốc bắc", tầm vông vạt nhọn và mã tấu.


    Đại tướng Cao Văn Viên đã viết: “Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh. Trách nhiệm về cuộc chiến ở đây là của người Mỹ. Chính sách đó do họ đề ra, chúng ta chỉ làm theo họ mà thôi!”.



    Bởi lệ thuộc vào viện trợ của Hoa Kỳ nhưng không chịu nghe lời Hoa Kỳ nên hai anh em Ngô Đình Diệm phải chịu thảm tử. Khi bọn tướng phản loạn ngửa tay nhận tiền của Mỹ để làm binh biến là cánh cửa hỏa ngục đã mở. Việt Nam nhanh chóng biến thành nơi tiêu thụ vũ khí, bom đạn thặng dư từ đệ II Thế Chiến và thí nghiệm vũ khí mới. Hoa Kỳ hí hửng, hấp tấp  đến nỗi Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tự động đổ bộ vào Đà Nẵng trước khi Phan Huy Quát buộc phải sai Bùi Diễm viết văn bản hợp thức hóa.


    Nguyễn Văn Ngân, nguyên trợ lý đặc biệt của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu, đã nhận xét: "Người Mỹ đã thay thế Pháp với chính sách thực dân mới. Vào thế kỷ 19, người Pháp nhân danh khai hóa để khai thác tài nguyên thuộc địa, nay người Mỹ nhân danh dân chủ để khai thác xương máu người Việt trong việc thiết lập một "tiền đồn chống Cộng" tại Đông Nam Á. Người Mỹ đến Việt Nam không vì quyền lợi người Việt Nam mà vì quyền lợi người Mỹ. Nền dân chủ mà người Mỹ tán dương khi can thiệp vào Việt Nam là nền dân chủ được định nghĩa trong quyền lợi của Mỹ, một thứ phó sản được dùng làm bình phong để thực hiện chính sách chia để trị, thiết lập đạo quân thứ năm, khuyến khích tình trạng vô chính phủ, nội loạn… để dễ bề khuynh loát và khi cần thiết để thực hiện các cuộc đảo chính và ám sát lãnh tụ quốc gia bằng bàn tay của các tay sai bản xứ. Chính sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ đã được sử dụng như lưỡi gươm Damoclès... chỉ nhằm mục đích làm tê liệt ý chí đề kháng và nô lệ hóa.


    Nhìn lại diễn trình lịch sử hai nền Cộng Hòa ở miền Nam, nhận xét trên hoàn toàn không có gì sai. Đó là nguyên nhân tại sao thể chế của Nguyễn văn Thiệu trước đây đã nhắm mắt ký vào bản án tử hình cho nền Đệ Nhị Cộng Hòa là bản hiệp định Paris về Việt Nam 27-1-1973.


    Hoa Kỳ không ngu để bị lừa khi thừa nhận Mặt Trận Ác Ôn Côn Đồ Giải Phóng Miền Nam Việt Nam vốn chỉ là phó sản của VC dựng lên để thi hành kế hoạch chiếm nốt miền Nam. 80% lực lượng cộng  quân tham chiến ở miền Nam là quân đội Bắc Việt. Để nguyên cục bướu ung thư này ở miền Nam, tốt hơn không nên ký hiệp định để khỏi phải thực thi hiệp định.


    Cộng sản ký hiệp định với mục đích đuổi người Mỹ ra khỏi Đông Dương. Hoa Kỳ ký hiệp định là “bỏ con săn sắt, bắt con cá rô”.Vấn đề vũ khí thặng dư đã giải quyết xong. Cánh cửa thâm nhập vào thị trường Hoa Lục đã mở. Tuy nhiên Hoa Kỳ phải tạo cho Việt Nam thống nhất sớm để chuẩn bị cho thời kỳ cả nước Việt Nam đánh thuê cho Hoa Kỳ trong tương lai.

    Phải ngồi vào bàn hội nghị, Việt Nam Cộng Hòa đã lép vế khi bị Hoa Kỳ ép phải thừa nhận bọn MTDTGPMNVN.

    Suốt thời gian bàn thảo Việt Nam Cộng Hòa ở trong thế một chống bốn đó là Hoa Kỳ,Việt Cộng, Mặt Trận DTGPMNVN và dư luận phản chiến thế giới.

    Ký hiệp định xong Việt Nam Cộng Hòa ở trong thế một chống năm, do có thêm “hội đồng” được Hiệp định chỉ rõ trong chương IV, điều 12, khoản a, là  “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc”.


    trích dẫn

    Điều 12:

    a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc nhậm chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương để thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt, và sẽ làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hòa bình, độc lập và dân chủ.

    b) Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói trong Điều 9(b) và quy định thủ tục và thể thức của cuộc tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thuơng mà thỏa thuận. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phuơng theo như hai bên miền Nam Việt Nam thỏa thuận.

    hết trích


    Suy cho cùng vận nước mạt đến thế là vì hậu quả của  sự mất tự chủ do ý thức nô lệ và tinh thần vong bản vọng ngoại, phản chủ, phản quốc thâm căn. Sau hiệp định Geneve 1954, lực lượng quốc gia Việt Nam trở thành một hài nhi bệnh tật sống nhờ vào nguồn sữa mẹ Hoa Kỳ. Bà mẹ có cho bú thì em bé mới ngủ yên, thiếu sữa thì khóc thét lên giẫy giụa, dứt luôn không cho bú nữa thì thở hơi cuối cùng.



    Tính từ khi ký Hiệp định vào ngày 27-1-1973 về sau, dù hòa hay chiến Việt Nam Cộng Hòa cũng không tồn tại. Tuy nhiên chết theo kiểu không đánh mà chạy rồi kết thúc vào ngày 30- 4- 1975 quả là nhơ nhuốc.


    Nhìn ra thế giới không phải chỉ riêng trường hợp Việt Nam Cộng Hòa nằm trong cái nôi, núp dưới cái ô của Mỹ. Đài Loan, Đại Hàn, Phillipines cũng nằm trong sự bảo trợ của Hoa Kỳ, quốc gia nào cũng có sự qua phân Quốc Cộng nhưng để bị đánh bật gốc ra khỏi quê hương không còn tấc đất cắm dùi chỉ có dân Việt Nam.


    Một đất nước mà thành phần lãnh đạo chỉ tranh ăn, phản chủ, giặc đến thì đào tẩu chạy theo ngoại bang, mà thoi thóp đến 1975 cho thấy đã làm hao  tổn tài nguyên đất nước qua việc  hoang phí biết bao xương máu, tính mạng của những người lính.


    Ngày nay bọn này còn hoang tưởng với giấc mơ khôi phục lại Hiệp Định Paris 27-1-1973.


    Lịch sử không bao giờ đứng lại, và thực tế dân tộc Việt Nam không bao giờ chấp nhận cộng sản, những Người Việt Quốc Gia chân chính có thất cơ, lỡ bước lưu vong nhưng không lỗi đạo với quốc gia dân tộc. Cuộc chiến Quốc Cộng chưa tàn, Lằn Ranh Quốc Cộng vẫn còn đó. Tinh thần quốc gia dân tộc vẫn tiềm phục trong lòng người dân quốc nội chờ đợi một ngày quật khởi, loại trừ chủ nghĩa Mác Lê, xóa bỏ chuyên chính vô sản, khôi phục lại toàn vẹn đất nước. 

    Hiện trạng Việt Nam cho thấy chỉ có những cuộc nổi dậy đồng bộ từ trong nước mới khả dĩ làm xoay chuyển tình thế, tạo ra một cuộc cách mạng mới để phục hưng dân tộc và không có cuộc đảo chính nào từ các lực lượng bên ngoài lật đổ được những nhà nước cộng sản, ngoại trừ những phân hóa và đối đầu giữa các phe phái trong nội bộ của họ. Như thế rõ ràng “Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho Việt Nam” phải do chính dân tộc Viêt Nam tự quyết định lấy. Chúng ta không nên nuôi huyễn tưởng rằng những cuộc đấu tranh cách một đại dương này là mặt trận chính, quyết định được vận mệnh lịch sử của dân tộc Việt Nam. 

    Lịch sử chúng ta có những cái tên từng nhờ ngoại bang quyết định hộ vận mạng của dân tộc được lưu xú vạn niên như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống. Thảm họa của dân tộc hiện nay không ngoài hậu quả của hành động “rước voi về giày mả tổ” của Nguyễn Phúc Ánh đã tạo ra tư tưởng vong bản và nô lệ vọng ngoại đến cùng cực. Hiện nay bọn cướp được nước thì muốn bán nước cho Tàu, bọn bị mất nước chẳng có tấc đất cắm dùi lại muốn bán nước cho Mỹ. Khốn khổ cho dân tộc Việt Nam, thời nào cũng bị bán đứng bởi những bọn nô lệ vọng ngoại. 

    Lịch sử đã chứng minh không một đám ngoại nhân nào yêu thương đất nước, dân tộc  của chúng ta nếu chính chúng ta không biết yêu thương lấy đất nước và dân tộc của mình. Dân tộc Việt Nam phải tự quyết định lấy vận mệnh của mình chứ không thể van nài, cầu xin được trở thành quân cờ phục vụ cho lợi ích của ngoại bang và những thế lực quốc tế./.


    Kim Âu

    Không Thể Nào Quên II

    Jan 07/2013



    * Hoa Kỳ đã chính thức có mặt ở Việt Nam từ ngày 16 tháng 7 năm 1944, nhóm OSS của Allison Thomas nhảy dù xuống an toàn khu Việt Cộng ở khu vực lân cận làng Tân Trào (Kim Lũng) cùng hai thành viên người Mỹ trong đội của anh là Prunnier, Zielski, hai người Pháp và một người Việt tên là Phác tiếp theo là nhiều người nữa. Nhóm OSS này huấn luyện quân sự cho Việt Cộng nên xem như cha đẻ của "Quân đội nhân dân"được khai sinh vào ngày 22-12-1944.

    Thiếu tá Thomas trở thành bạn thân của Võ Nguyên Gíap và Hồ Chí Minh đã cùng hành quân từ Tân Trào về Hà Nội ngày 16 tháng 8, Allison Thomas và Võ Nguyên Giáp tấn công Thái Nguyên.Thomas đã nỗ lực giúp Võ Nguyên Giáp buộc quân Nhật tại Thái Nguyên phải đầu hàng ngày 26 – 8 – 1944, khi Võ Nguyên Giáp vào Hà Nội sớm từ ngày 21. Lúc đó  Đại uý Archimedes Patti cùng đội Mercy đáp xuống phi trường Gia Lâm vào Hà Nội trở thành một trung tâm quyền lực của Đồng Minh. Archimedes Patti và Hồ Chí Minh đã có một mối quan hệ thân thiết tại Côn Minh từ trước. Ngày 25-8-1945  Hồ Chí Minh ghé thăm Thomas trước khi vào Hà Nội gặp Archimedes Patti ngày 26. Nhưng sau hiệp định Geneve 20-7 1954, Hoa Kỳ mới chính thức can dự sâu vào Việt Nam qua việc dựng lên lá bài Ngô Đình Diệm.

    ĐỌC THÊM


    ·         ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI

    ·         40 NĂM SAU CUỘC PHẢN BỘI



    ----- Forwarded Message -----

    From: Christopher 

    Sent: Tuesday, August 22, 2017, 9:09:38 AM EDT

    Subject: Re: [ChinhNghiaViet] SỰ TỒN TẠI CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA


     

    Chúng ta thử tưởng tượng rằng văn bản Hiệp Định Geneve và Paris 1973 bị thiu, ối cần phải vứt bỏ. Nhưng giấy mực lưu trữ trong tủ hồ sơ

    làm sao thiu, ối, mục rã ?

    Ảo tưởng là sao vậy? Ai, ảo tưởng đây?!

    Không thuyết phục...

    STOP PLEASE !

    nguyenp





    On Tuesday, August 22, 2017, 2:39:47 AM PDT, Gia Cat > wrote:



     

    TI NGHIP NHNG K HOANG TƯỞNG. LCH S KHÔNG BAO GIĐNG LI. MT CHĐĐÃ B TIÊU VONG CHC CHN CHNG TT ĐP GÌ.

    KHÔNG AI TIN BN "QUC GIA LÂM NGUY CAO PHI VIN TU" 

    T QUC VIT NAM TƯƠNG LAI S CÓ T DO - DÂN CH NHƯNG TH CHĐÓ KHÔNG BAO GI LÀ VNCH HAY VIT CNG.

    T QUC VIT NAM LÀ CA  DÂN TC VIT NAM KHÔNG PHI LÀ CA VNCH HAY VIT CNG.





    From: Dinh Mac 
    Sent: Monday, August 21, 2017, 11:46:08 PM EDT

    Subject: [ChinhNghiaViet] Re: [PhungSuXaHoi] SỰ TỒN TẠI CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA


     


    SỰ TỒN TẠI CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA Tác giả: Thẩm phán Phạm Đình Hưng

    Chánh thể và Quốc gia Trong thời gian lưu vong ở hải ngoại, một số ít người Việt tị nạn cộng sản đã đơn giản ...










    On Monday, August 21, 2017, 6:42:25 PM PDT, Quang Nguyen > wrote:



     

    S TN TI CA VIT NAM CNG HÒA

    Tác giThm phán Phm Đình Hưng   


    Chánh th và Quc gia

    Trong thi gian lưu vong hi ngoi, mt sít người Vit t nn cng sn đã đơn gin nghĩ rng Vit Nam Cng Hòa đã chết sau ngày các sưđoàn ca Bc Vit cng sn (nước Vit Nam Dân Ch Cng Hòa) đánh chiếm mt quc gia láng ging là min Nam Vit Nam, quc hiu Vit Nam Cng Hòa. H mun nói đến chánh th Cng Hòa (Republic) ca min Nam Vit Nam đã b k xâm lăng Bc Vit, môt nước cng sn trên vĩ tuyến 17, xóa b và thay thế bng mt chếđđc tài toàn tr do đng Cng Sn lãnh đo t 42 năm nay. Hđã không phân bit chánh th (political regime) vi quc gia (state).

    V mt đa lý, Vit Nam Cng Hòa là min Nam Vit Nam có lãnh th tri dài t mũi Cà Mau đến vĩ tuyến 17 (sông Bến Hi). V mt chánh tr, Vit Nam Cng Hòa là mquc gia đc lpđã được quc tế công pháp minh th công nhn: Hip đnh Genève ký kết ngày 20-7-1954 và Hip đnh Paris ký kết ngày 27-1-1973 trước s chng kiến ca Tng Thơ Ký Liên Hip Quc Kurt Josef Waldheim, môt nhà ngoi giao ca nước Áo. Đến ngày nay, không có quc gia nào đã ký kết hai hip đnh ny, k c nước Vit Nam cng sn, cáo bi (revoke) hip ước. Thi gian không làm mt hiu lc ca các hip ước, hip đnh và công ước quc tế. Ngoài ra, Vit Nam Cng Hòa còn là Quan sát viên thường trc Liên Hip Quc, thành viên ca mt s T chc Quc tế và có quan h ngoi giao vi trên 50 quc gia trong Thế Gii T Do (Free World). S xâm lăng, chiếm đóng và thôn tính min Nam Vit Nam ca quân đi nước Vit Nam Dân Ch Cng Hòa (Bc Vit cng sn) không th tước b quyn đc lp t ch ca mt nước láng ging. Trong hoàn cnh ca mt nước nh b xâm lăng và chiếm đóng bng bo lc ca súng đn cng sn, Vit Nam Cng Hòa tc Nam Vit Nam s tiếp tc mt đc lp và ch quyn sau khi toàn bđt nước Vit Nam t Bc chí Nam, trên đt lin và ngoài Bin Đông (South China Sea), bsát nhp vào Trung Quc năm 2020 căn c theo mt ước Thành Đô do hai đng Cng sn và Nhà nước Trung Quc và Vit Nam lén lút ký kết năm 1990 đ biến ci nước Vit Nam thành mt phn lãnh th ca nước Tàu. Hai cuc Chiến Tranh Đông Dương do đng Cng Sn Vit Nam gây ra dưới s chđo ca Thiếu tá Tình báo Tàu H Quang đã có hu qu h thp cương v ca quc gia Vit Nam t mt nước đc lp tr thành mt tnh cũa Trung Quc, mt khu T tr như khu T Tr ca dân tc Choang trong tnh Qung Tây hoc môt qun trc thuc tnh Qung Đông

    Mt đc lp và ch quyn t ngày 30-4-1975, Vit Nam Cng Hòa hin nay vn là mt thc th chánh tr(political entity) cn hin hu trong nước Vit Nam, ti Đông Nam Á và trên thế gii mc du đã b mt quc gia khác (Vit Nam Dân Ch Cng Hòa) xâm lăng, thôn tính và đô h. Nói tóm li, Vit Nam Cng Hòa, nn nhân ca mt cuc xâm lăng do người đng chng chđng theo ch th ca Nga-Hoa trong cuc Chiến Tranh Lnh (1948-1989), ch mt đc lp và ch quyn nhưng vn còn tn ti trên bình din quc tế công pháp và trong thc ti ngày nay. Khi cn, tôi sđưa ra các dn chng và chi tiết đ hu thun quan nim ca tôi.

    Thành lp th chế Cng Hòa

    Ti min Nam Vit Nam bao gm Nam Phn (thđô Sài Gòn và 21 tnh) và Trung Phn (các tnh duyên hi và trên cao nguyên), th chế Cng Hòa đã được thiết lp ln đu tiên t năm 1955 dưới thi c Tng Thng Ngô Đình Dim, người khai sáng nn Đ Nhr Cng Hòa xây dng trên cơ s Hiến pháp ngày 26-10-1956 do Quc Hi Lp Hiến dân c son tho và biu quyết. Trong khi quc sách p Chiến Lược và Khu Trù Mt đang ngăn chn hu hiu s xâm nhp ban đêm ca cán binh cng sn vào các thôn xóm ho lánh, cuc đo chánh ngày 1-11-1963 đã git sp nn Đ Nht Cng Hòa và giết hi Tng Thng Ngô Đình Dim cùng bào đ Ngô Đình Nhu, mt chiến lược gia có kiến thc uyên bác. Sau gn 3 năm xáo trn chánh tr, nn Đ Nh Cng Hòa đã được thành lp trên cơ s Hiến pháp ngày 1-4-1967 do Quc Hi Lp Hiến bu c ngày 11-9-1966 son tho và chung quyết. Tôi đã được vinh d tham gia công tác đúc kết và thuyết trình trước Quc hi khoáng đi đ 117 Dân biu tho lun và biu quyết trong tinh thn hoàn toàn t do. Mt hiến pháp tôn trng nguyên tc quân bình và kim soát h tương gia ba cơ quan Hành pháp, Lp pháp và Tư pháp đãđược ban hành trong tình trng chiến tranh đđm bo nhân quyn và các quyn t do dân ch ca nhân dân min Nam Vit Nam. Ngoài ra, Hiến pháp còn thành lp Giám Sát Vin, mt đnh chếđc bit đc lp có thm quyn bài tr tham nhũng, thm tra kế toán ca tt c các cơ quan công quyn và kim kê tài sn ca tt c viên chc, k c Tng Thng.

    Nhm mc đích thuc đa hóa min Nam Vit Nam vô cùng trù phú, sxâm lược ca Bc Vit cng sn đã có hu qu cướp đot tài sn di dào ca nhân dân min Nam, đình ch thi hành Hiến pháp Đ Nh Cng Hòa, chm dt hot đng ca Nhà nước, Quân lc và các cơ chế hiến đnh, hy b tt c các quyn tư do dân ch, gián đon công v ca toàn th quân, cán, chánh Vit Nam Cng Hòa. S cưỡng chiếm min Nam ca 13 sưđoàn công sn Bc Vit đã xóa b th chế Cng Hòa ca mt quc gia b chiếm đóng. T ngày tht th do thiếu ht phương tin chiến tranh, min Nam Vit Nam không còn là mt quc gia đc lsau khi b cưỡng bách sát nhp vào nước Cng Hòa Xã Hi Ch Nghĩa Vit Nam, hu thân ca Vit Nam Dân Ch Cng Hòa (Bc Vit cng sn), dưới ngy danh “thng nht” đt nước Vit Nam. T ngày 30-4-1975, dưới bo lc ca lưỡi lê và súng đn, mt chánh th t do dân ch vi tam quyn phân lp ti min Nam Vit Nam đã b thay thế bi mt chếđđc tài công an tr tp trung mi quyn bính vào trong tay ca đng Cng sn Vit Nam, tay sai ca Trung Quc và đ t ca Liên Xô.

    Vit Nam Cng Hòa còn tn ti hay không?

    Bt chp quc tế công pháp, nước Vit Nam Dân Ch Cng Hòa (Bc Vit cng sn) đã c tình vi phm hai Hip đnh Genève 1954 và Paris 1973 khi công khai xua quân vượt vĩ tuyến 17 đánh chiếm Vit Nam Cng Hòa, mt nước đc lp và có ch quyn. Khinh thường dư lun quc tế, Bc Vit cng sn năm 1975 đã gp rút đt c thế gii trước chuyn đã ri (fait accompli) khi vn dng tt c sưđoàn vượt khu phi quân s (DMZ) đánh chiếm toàn b min Nam Vit Nam. Trong quan h quc tế, Đng và Nhà nước cng sn Vit Nam không bao gi tôn trng các hip ước, hip đnh, hp đng đã ký kết và các đnh ước, công ước quc tếđã gia nhp. Mi đây, ngày 23-7-2017, nước Vit Nam cng sn li dám sai mt vđến nước Đc bt cóc ti Berlin cán b cng sn Trnh Xuân Thanh đang ti đào và xin t nn chánh tr ti nước ny. Hành đng phi pháp trng trn ca mt v cng sn Vit Nam ti nước Đc đã t cáo quán tính khinh thường lut pháp quc tế ca Đng và Nhà nước cng sn Vit Nam mc du nước ny đã tham gia Liên Hip Quc, các t chc quc tế và công ước quc tế.

    42 năm đã trôi qua tngày Bc Vit cng sn đánh chiếm min Nam t do. Mc du đã tiếp thâu được nhiu thông tin chính xác tcác mng xã hi (social media), mt s người t nn cng sn ti hi ngoi vn ph ha theo lun điu tuyên truyn ca Cng sn Vit Nam: Vit Nam Cng Hòa đã b khai t sau khi Quân lc min Nam Vit Nam sp đ trước s tn công ca quân xâm lăng cng sn Bc Vit. H còn nông cn nghĩ rng sđu hàng ca Đi tướng Dương văn Minh, Tng Thng bt hp hiến do Quc Hi hp tp đưa lên trong ba ngày cui cùng (t 28-4 đến 30-4-1975) đã chánh thc xóa b Vit Nam Cng Hòa, mt quc gia đc lp đã được Hip đnh Genève 1954 minh thcông nhn và là mt trong 12 nước đã ký kết Hip đnh Paris 1973 trước s chng kiến ca Tng Thơ Ký Liên Hip Quc. Lp lun ca h hoàn toàn sai trái v c hai mt pháp lý và thc ti.

    Trong phm vi hn hp ca bài viết ny, tôi mun căn c vào lch s ca mt s nước Âu châu đã có hoàn cnh ging như min Nam Vit Nam đ khng đnh Vit Nam Cng Hòa vn còn tn ti và s có nhiu trin vng thâu hi quyn đc lp t ch trong tương lai không xa.

    Lch s ca mt s nước Âu châu đã b xâm lăng và mt đc lp

    1. Nước Ba Lan (Poland, Pologne)

    Thành lp trong thế k 10 do Đi Công tước (Grand Duc) Mieszko, Ba Lan là mt nước nhĐông Âu đã b 3 Vương quc ln bao quanh (Nga, Ph và Áo) qua phân lãnh thnăm1795 và mt đc lp trong mt thi gian dài trên mt thế k. Tuy nhiên, nước Ba Lan không mt mà vn tn ti nh dân tc Ba Lan có lòng yêu nước mãnh lit và tinh thn kiên trì hy sinh tranh đu đ khôi phc đc lp ca Ba Lan.

    Sau Thế Chiến I, nước Ba Lan đc lp hi sinh năm 1918.Nhưng đến năm 1939, hai cường quc láng ging (Đc và Liên Xô) li xâm lăng nước Ba Lan đ phân chia lãnh th ca nước ny. Dân tc Ba Lan đã dũng cm tiếp tc tranh đu chng ngoi xâm và đã phi hy sinh rt nhiu cho đc lp t ch ca nước nhà.

    Sau Thế Chìến II, nước Ba Lan thâu hi đc lp và tn ti đến ngày nay. Ba Lan là mt thành viên ca y Hi Kim Soát Đình Chiến ti Vit Nam t năm 1954.

    1. Nước Áo (Austria, Autriche)

    Thành lp năm 996 t lãnh đa Bavaria, mt tiu bang ln ca nước Cng Hòa Liên Bang Đc ngày nay (có th ph là thành ph Munich), nước Áo là mt đế quc hùng mnh vào bc nht Âu châu đã giao chiến vi Hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte. Đếquc Áo-Hung (Austro-Hungarian Empire) đt dưới quyn cai tr lâu dài ca Hoàng tc Habsbourg.

    Sau Thế Chiên I, đế quc Áo-Hung tan rã và tr thành mt nước Cng Hòa (Austrian Republic) t 1918 đến 1933. Năm 1938, Quc trưởng ca nước Đc Adolf Hitler, mt người sanh ti nước Áo, sát nhp nước ca mình vào nước Đc.

    Sau Thế Chiến II, nước Áo tranh thđc lp năm 1955 và thành lp nn Đ nh Cng Hòa.

    C hai nước Đc và Áo đu nói tiếng Đc. Nhưng dân tc Áo vn mun có mt nước nhđc lp t ch tách ri khi nước Cng Hòa Liên Bang Đc, mt nước ln hùng mnh.

    1. Estonia, Latvia và Lithuania là ba nước rt nh vùnh bin Baltic, giáp ranh vi nước khng l Nga.

    Sau Thế Chiến I, Estonia, Latvia và Lithuania được đc lp đi vi hai nước ln Nga và Đc. Nhưng năm 1940, thi hành hip ước Molotov-Ribbentrop ký kết vi nước Đc sau khi Thế Chiến II bùng n năm 1939, Liên Xô thôn tính ngay 3 nước láng ging Estonia, Latvia và Lithuania. Mt đc lp, 3 nước nh ny b sát nhp vào lãnh th Liên Xô t năm 1940. Mãi đến năm 1991, sau s sp đ ca đế quc cng sn Liên Xô, 3 nước Estonia, Latvia và Lithuania mi thâu hi đc lp, gia nhp Liên Âu (European Union) và Minh Ước Bc Đi Tây Dương (NATO) đđược bo v chng li s xâm ln ca nước Nga.

    Kết lun

    Các nước Ba Lan, Áo, Estonia, Latvia và Lithuania là nhng nước nh thâu hi được đc lp t ch nh lòng yêu nước và tinh thn kiên trì tranh đu ca nhân dân các nước ny cho đc lp ca quê hương x s

    Nhân dân min Nam Vit Nam cn phi noi theo gương sáng ca nhân dân các nước nh k trên Âu châu đ thâu hi đc lp và tái lp chánh th Cng Hòa. Sau 42 năm thng tr bo tàn và tham nhũng bóc lt ca đng Cng Sn, đi b phn qun chúng nhân dân Vit Nam t Nam chí Bc đã nhn thy chánh th Cng Hòa có nhiu ưu đim hơn chếđđc tài toàn tr ca đng Cng Sn. Vì vy, nhân dân Vit Nam cn phi quyết tâm gii th chế cng sn đ tránh khi đi ha Bc thuc ln th 5. Mun ngăn chn âm mưu sát nhp nước Vit Nam vào Trung Quc năm 2020, cn phi nhanh chóng thi hành Hip đnh Paris 1973. Đó là mt gii pháp pháp lý kh thi trong hin tình đt nước Vit Nam.

    California, ngày 15-8-2017


    Th
    m phán Phm Đình Hưng

    ------------

    Ý kiến đc gi :

    Bài vi
    ết trên là mt cái tát vào mt Liên Thành, kđã nông cn xác đnh là "Vit Nam Cng Hòa đã chết 42 năm ri" và đã công khai ca ngi chếđ VC ti Vit Nam là hùng cường ri chê bai Lut Sư Lê Trng Quát và nhng ai mun đem Hip Đnh Paris năm 1973 ra tái xét và thc thi là "thiếu thc tế" và không đnăng lc đđi sc vi chính quyn VC.

    Tuy là mt thiếu tá ca QLVNCH nhưng Liên Thành đã tđng xóa b căn tính VNCH ca mình, tương t như lp lun rng mt khi thân ph ca ông là Nguyn Phúc Tráng C đã tht lc thì mi già tr ca C Tráng Cđu b tiêu tán, ông Liên Thành không cn phi gi li h"Nguyn Phúc" na hoc làm l gi gì cho thân ph ca mình vì… chết là hết. Ông cho rng VNCH không còn hin hu thì mi người Vit ca Min Nam VN không còn mang tinh thn ca VNCH na, không còn yêu và tranh đu cho sđc lp t do hnh phúc và tinh hoa ca VNCH na. Mưu đ thâm him mun gt b VNCH ca Liên Thành là đ phc v cho ai đây ??

    Chúng tôi mong đi Liên Thành công khai xin li và đính chính cho s phát ngôn ba bi khi ph nhn giá tr ca Hip Đnh Paris năm 1973 và cho rng VNCH đã chết. Nếu ông ta t khuc xin li thì tđây ông ta s b loi tr ra khi tp th Người Vit Quc Gia đang còn tôn trng th chế VNCH và Hip Đnh Paris. Xem ra Liên Thành ch mun tôn trng bn VC cướp nước đã và đang vi phm lut pháp quc tế này, vy thì… Liên Thành cũng chlà mt môn đ ca bn cướp mà thôi !!.

    Xin mi quý đc giđc thêm bài "Đi thoi gia M và Vit Nam: Li thoát ca Vit Nam " đã tng được đăng nhiu ln trước đây trên Ba Cây Trúc.

    JB Trường Sơn

    __._,_.___



    Posted by: Gia Cat <giacat54@yahoo.com


    0 0




    -Bài số 1 

    Đặt vấn đề với chủ nhân dự án Phạm Hoàng Bắc và 

    ông Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí có dựng cột Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ hay không?



    http://i1104.photobucket.com/albums/h330/ngokycali/Ngo%20Ky%202/Ngo%20Ky%202001/xvv3_zpsqorqbcdc.jpg


    Little Saigon ngày 21 tháng 8 năm 2017


    Kính thưa Quý Đồng Hương,


    Vào ngày 18 tháng 8 năm 2017, trên trang mạng nhật báo Người Việt có đăng tải một bài viết dài mang nội dung như một quảng cáo, với tựa đề "Little Saigon sắp có kiến trúc rộng 6 mẫu, với hình ảnh Sài Gòn xưa,"và tôi xin đính kèm nguyên văn bài báo ở phía dưới để quý vị nắm bắt vấn đề. 


    Có nhiều vấn đề đáng quan tâm, nhưng trong bài viết số 1 này, tôi chỉ giới hạn trong việc đặt vấn đề liên quan đến lời tuyên bố của ông chủ nhân dự án Phạm Hoàng Bắc, và của ông Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí được trích đăng trong bài báo Người Việt rằng: 


    Trích:


    ....Theo ông Bắc kể, sau cùng, tuần trước thành phố có buổi họp để duyệt lại dự án, dưới sự chủ tọa của Thị Trưởng Tạ Đức Trí. 


    "Dự án này là một di sản cho thành phố Westminster, nói chung, và cho cộng đồng tị nạn Việt Nam, nói riêng,"ông Trí nói, theo lời kể của ông Bắc. (ngưng trích)


    Kính thưa Quý Đồng Hương,

    Bình thường tôi không quan tâm đến các dự án có tính cách "thương mại"được xây cất trong khu vực Little Saigon, nhưng qua lời phát biểu của ông chủ nhân dự án Phạm Hoàng Bắc và ông Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí, thì dự án này còn có mang cái ý nghĩa chính trị, vì "Dự án này là một di sản cho thành phố Westminster, nói chung, và cho cộng đồng tị nạn Việt Nam, nói riêng,"chính vì vậy mà tôi muốn yêu cầu ông chủ nhân dự án Phạm Hoàng Bắc và Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí nói rõ cho tôi và những người tị nạn được biết là "Dự án này là một di sản cho thành phố Westminster, nói chung, và cho cộng đồng tị nạn Việt Nam, nói riêng," tức là như thế nào? Để cho dễ hiểu, tôi muốn hỏi ông chủ nhân dự án Phạm Hoàng Bắc và ông Thị Trưởng Tạ Đức Trí trả lời một cách thẳng thắn và rõ ràng, là trong khu vực dự án này có dựng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ một cách trang trọng và uy nghi, như từng được dựng tại Thủ Đô Sài Gòn và khắp lãnh thổ Miền Nam Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 hay không?

    Lý do mà tôi nhấn mạnh đến chữ "Sài Gòn" là vì hễ nói đến "Sài Gòn" là phải có lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, vì đó là biểu tượng của Miền Nam Việt Nam Cộng Hòa, mà "Sài Gòn" là thủ đô. Chính trong bài báo Người Việt đăng tải, ông chủ nhân dự án Phạm Hoàng Bắc đã tuyên bố nguyên văn như sau:

    Trích:

     "Ông Bắc cho biết: “Là người Việt tị nạn tới Mỹ sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, vợ chồng tôi trước khi về hưu, dự tính phải để lại cho thế hệ sau một di sản mang hình ảnh của Sài Gòn xưa,để các con tôi và những người trẻ gốc Việt cùng trang lứa có thể nhớ đến cái đẹp của nơi thế hệ cha anh đã phải rời bỏ để đi tìm tự do.” (ngưng trích)

    Kính thưa Quý Đồng Hương,

    Vì khu vực dự án nói trên nằm ngay trung tâm thủ đô tỵ nạn Little Saigon tại thành phố Westminster, tiểu bang California, và được ông chủ nhân dự án Phạm Hoàng Bắc và ông Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí tuyên bố "Dự án này là một di sản cho thành phố Westminster, nói chung, và cho cộng đồng tị nạn Việt Nam, nói riêng,"cho nên việc dựng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ một cách trang trọng và uy nghi là một điều cần thiết phải có. 

    Đích thân Thống Đốc California Arnold Schwarzenegger đã về tận thủ đô Little Saigon, Westminster để ký Sắc Lệnh Công Nhận Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Là Lá Cờ Di Sản Của Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt Tại California vào ngày 5 tháng 8 năm 2006, và Hội Đồng Thành Phố Westminster đã đồng thanh thông qua Bản Nghị Quyết Công Nhận Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Là Lá Cờ Chính Thức Của Cộng Đồng Người Việt Nam Hải Ngoại vào ngày 19 tháng 2 năm 2003.

    Kính thưa Quý Đồng Hương,

    Tôi tin tưởng mọi người Việt Nam tỵ nạn cộng sản đang sống tại thủ đô tỵ nạn Little Saigon nói riêng, và hải ngoại nói chung đều có cùng quan niệm như tôi, là khi đã tuyên bố "Dự án này là một di sản cho thành phố Westminster, nói chung, và cho cộng đồng tị nạn Việt Nam, nói riêng," thì phải dựng là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ một cách trang trọng và uy nghi.

    Trân trọng,

    Ngô Kỷ

    (714) 404-7022

    PHỤ ĐÍNH

    http://i1104.photobucket.com/albums/h330/ngokycali/Ngo%20Ky%202/Ngo%20Ky%202001/ttdd2_zpsiozre5gl.jpg

    Saturday, August 5, 2006

    Gov. Schwarzenegger Signs Executive Order Honoring Vietnamese Heritage


    Gov. Schwarzenegger today signed executive order S-14-06 that honors Vietnamese heritage. Below is the text of the Executive Order.

    WHEREAS California is the home to approximately 500,000 Vietnamese immigrants; and


    WHEREAS the Vietnamese-American community has made positive contributions to the historical, cultural, educational, and economic prosperity of California; and

    WHEREAS Vietnamese-Americans remain vigilant in opposing tyranny of all forms, actively supporting human rights for all people, and celebrating the principles of democracy, justice, and tolerance upon which our nation was founded; and

    WHEREAS the flag of the former Republic of Vietnam, with three red stripes upon a field of yellow, and dating back to 1948, has been and will continue to be a symbol of resilience, freedom, and democracy to many Vietnamese-Americans in California; and

    WHEREAS the flag of the former Republic of Vietnam is an important symbol in the history of Vietnamese-Americans and is now known as the Vietnamese Freedom and Heritage Flag; and

    WHEREAS the vast majority of California's Vietnamese-Americans embrace the yellow and red-striped Freedom and Heritage Flag as the symbol of the Vietnamese-American community.

    NOW, THEREFORE, I, ARNOLD SCHWARZENEGGER, Governor of the State of California, formally recognize the Vietnamese Freedom and Heritage Flag as the official symbol of the California Vietnamese-American community and support the efforts of California's Vietnamese-American community to promote freedom and democracy. By virtue of the power and authority vested in me by the Constitution and statutes of the State of California, I do hereby issue this Order to become effective immediately:

    The Vietnamese Freedom and Heritage Flag may be displayed on the premises of state buildings in connection with a state-sponsored Vietnamese-American ceremonial event, consistent with rules and protocol regarding the proper display of the United States and the State of California flags, including the provisions of title 4, chapter1 of the United States Code.

    I FURTHER DIRECT that as soon as hereafter possible, this Order be filed in the Office of the Secretary of State and that widespread publicity and notice be given to this Order.

    IN WITNESS WHEREOF I have hereunto set my hand and caused the Great Seal of the State of California to be affixed this 5th of August 2006.

    ______________________________ __
    ARNOLD SCHWARZENEGGER
    Governor of California
    ATTEST:
    ______________________________ __
    BRUCE McPHERSON
    Secretary of State

    Sắc Lệnh Của Thống Đốc Tiểu Bang California 

    Vinh Danh Lá Cờ Di Sản Việt Nam

    XÉT RẰNG California là nơi sinh sống của khoảng 500,000 di dân Việt Nam; và

    XÉT RẰNG cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã đóng góp tích cực cho sự phồn thịnh về lịch sử, văn hóa, giáo dục, và kinh tế của California; và

    XÉT RẰNG người Mỹ gốc Việt luôn cảnh giác chống lại sự độc tài dưới mọi hình thức, tích cực ủng hộ nhân quyền cho mọi dân tộc, và nêu cao chính nghĩa dân chủ, công lý, và khoan dung là những chính nghĩa tạo dựng nên quốc gia chúng ta; và

    XÉT RẰNG lá cờ nước Việt Nam Cộng Hòa cũ, với ba sọc đỏ trên nền cờ vàng, và đã sử dụng từ năm 1948, vẫn là và sẽ luôn luôn là biểu tượng của sự kiên trì, tự do, và dân chủ cho nhiều người Mỹ gốc Việt tại California; và

    XÉT RẰNG lá cờ nước Việt Nam Cộng Hòa cũ là một biểu tượng quan trọng trong lịch sử người Mỹ gốc Việt và nay được xem là lá cờ Di Sản Người Việt Nam Tự Do; và

    XÉT RẰNG một đa số rất lớn người Mỹ gốc Việt tại California xem lá cờ Di Sản và Tự Do màu vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

    BỞI THẾ NÊN, TÔI, ARNOLD SCHWARZENEGGER, Thống Đốc Tiểu Bang California, chính thức công nhận lá cờ Di Sản Người Việt Nam Tự Do là biểu tượng chính thức của cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại California và ủng hộ nỗ lực của cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại California đấu tranh cho tự do và dân chủ. Với thẩm quyền do Hiến Pháp và luật tiểu bang California trao cho tôi, tôi nay ra sắc lệnh này hiệu lực ngay lập tức:

    Lá cờ Di Sản Người Việt Nam Tự Do được phép treo tại các công sở tiểu bang khi liên quan tới một nghi lễ của người Mỹ gốc Việt được tiểu bang bảo trợ, theo đúng các nguyên tắc và nghi thức về việc treo cờ Hoa Kỳ và cờ tiểu bang California, trong đó có nhan đề 4, chương 1 bộ Luật Hoa Kỳ.

    TÔI NAY LỆNH THÊM rằng càng sớm càng tốt, Sắc Lệnh này được đệ nạp cho văn phòng Bộ Trưởng Tiểu Bang và loan báo rộng rãi cho Sắc Lệnh này.

    VỚI SỰ CHỨNG GIÁM DƯỚI ĐÂY tôi đặt bút ký và cho gắn dấu đại ấn của tiểu bang hôm nay ngày 5 Tháng Tám 2006.

    ARNOLD SCHWARZENEGGER
    Thống Đốc California

    LÀM CHỨNG:

    BRUCE McPHERSON
    Bộ Trưởng Tiểu Bang

                                                                               photo sg8_zpsvi1klrcb.jpg

    Thống Đốc California George Deukmejian về tận Westminster đứng dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ

    tuyên bố công nhận Địa Danh Little Saigon vào nàm 1988

     wt12.jpg wt14.jpg


    NGHỊ QUYẾT số 3750

    NGHỊ QUYẾT CỦA HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER 
    CÔNG NHẬN QUỐC KỲ VIỆT NAM CỘNG HÒA 
    LÀ LÁ CỜ CHÍNH THỨC CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI



    XÉT RẰNG: Chế độ đương quyền Cộng Sản Hà Nội vẫn tiếp tục thể chế độc tài do một chính quyền thối nát, không do dân bầu, luôn trắng trợn vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo của người dân;


    XÉT RẰNG: Đại đa số người Mỹ gốc Việt đã phải rời quê hương đều không chấp nhận hay tha thứ chế độ Cộng Sản Việt Nam;


    XÉT RẰNG: Người dân VNCH chưa hề chiến bại nhưng vẫn bất khuất chống Cộng và đồng lòng tranh đấu cho Tự Do;


    XÉT RẰNG: Tiểu bang California là nơi sinh sống có đông người Mỹ gốc Việt nhất trên toàn nước Mỹ;


    XÉT RẰNG: Thành phố Westminster là nơi có tỷ lệ cư dân người Mỹ gốc Việt cao hơn bất cứ thành phố nào ở California và bất cứ thành phố nào trên nước Mỹ;


    XÉT RẰNG: Người dân VNCH đã anh dũng chống xâm lăng Cộng Sản Bắc Việt. Họ là dân Việt tị nạn tới Mỹ và định cư tại thành phố Westminster, California. Họ phải được vinh danh và ghi nhớ những hy sinh của họ. Lá cờ tượng trưng Quốc Gia Việt Nam phải là Quốc Kỳ VNCH;


    XÉT RẰNG: Lá cờ của người Việt Tự Do là Quốc Kỳ VNCH, ba sọc ngang màu đỏ trên nền vàng;


    XÉT RẰNG: Lá cờ của chế độ độc đảng đương quyền cai trị Việt Nam là lá cờ của một guồng máy cầm quyền, chứ không phải là lá cờ của một Quốc Gia;


    XÉT RẰNG: Nghi thức văn hóa và lịch sử của dân Việt phải được đón mừng và vinh danh với lá cờ của Quốc Gia Việt Nam, chứ không phải bằng lá cờ của bọn độc tài, phản bội, chối bỏ lịch sử và văn hóa sáng ngời;


    XÉT RẰNG: Lá cờ VNCH vừa nhắc nhở đến hiểm họa Cộng Sản vừa khẳng định cảnh giác chống độc tài dưới bất cứ hình thức nào và tích cực ủng hộ cho nhân quyền. 
     

    NAY QUYẾT ĐỊNH: 


    Thành Phố Westminster long trọng công nhận Quốc Kỳ VNCH là lá cờ chính thức của Người Việt Hải Ngoại , với nền vàng, ba sọc đỏ là lá cờ chính thức đại diện cho tập thể người Việt hải ngoại. Quốc Kỳ VNCH được phép treo trên các công ốc sở hữu hoặc thuộc thẩm quyền của thành phố Westminster; hoặc trong các lễ hội của người Mỹ gốc Việt do thành phố bảo trợ và cấp giấy phép. 


    Hội Đồng Thành Phố Westminster kêu gọi các giới chức lập pháp của tiểu bang thông qua một đạo luật công nhận Quốc Kỳ VNCH là lá cờ chính thức đại diện cho tập thể người Mỹ gốc Việt hải ngoại. Đồng thời kêu gọi các học khu địa phương cũng sẽ chuẩn thuận một Nghị quyết tương tự, công nhận Quốc Kỳ VNCH là lá cờ chính thức được treo tại các trường học.   
     

    NGHỊ QUYẾT ĐƯỢC THÔNG QUA, THUẬN và PHÊ CHUẨN ngày 19 tháng 2 năm 2003.  


    Thị Trưởng thành phố Westminster


    Margie Rice (Ký tên) 
     
       

    RESOLUTION NO: 3750    
     

    A RESOLUTION OF THE CITY COUNCIL OF THE CITY OF WESTMINSTER 

    RECOGNIZING THE FLAG OF THE FORMER REPUBLIC OF VIETNAM AS THE OFFICIAL FLAG OF THE VIETNAMESE PEOPLE OVERSEAS 
     

    WHEREAS, the current Vietnam Hanoi Communist Regime continues to be a one party state ruled by an un-elected and unaccountable government that continuously and arbitrarily infringes upon the human rights and religious freedom of its people; and 


    WHEREAS, the vast majority of Vietnamese Americans who fled Vietnam do not recognize or condone the Vietnam Communist regime; and 


    WHEREAS, the people of the former Republic of Vietnam are not defeated but remain unbowed and in opposition to communism and stand united in their commitment to freedom; and 


    WHEREAS, the State of California is home to the largest Vietnamese-American population in the United States of America; and 


    WHEREAS, the City of Westminster is home to a higher percentage of Vietnamese-American residents than any other California or United States city; and 


    WHEREAS, the people of the former Republic of Vietnam were valiant in their resistance to the aggression of communist North Vietnam, and refugees from the Republic of Vietnam who emigrated to the United States of America and settled in the City of Westminster, California, should be honored and remembered for their sacrifices such that the only flag depicting the Nation of Vietnam shall be the flag of the former Republic of Vietnam; and 


    WHEREAS, the flag of the Free Vietnamese people is the flag of the former Republic of Vietnam, which consists of three horizontal stripes of red (gules) upon a field of gold (or); and 


    WHEREAS, the flag of the one party regime currently holding power in occupied Vietnam may be the flag of a government, but it is not the flag of a Nation; and 


    WHEREAS, the culture and history of the Vietnamese people should be celebrated and honored with the flag of the Vietnamese Nation, not the flag of the tyrants who betrayed and rejected that glorious culture and history; and 


    WHEREAS, this flag remains a poignant reminder of the threat of communism, and the imperative of remaining vigilant in opposition to tyranny of all forms, and to actively support human rights. 
     
     

    NOW, THEREFORE, BE IT RESOLVED, that the City of Westminster on this day formally recognizes the flag of the former Republic of Vietnam as the official flag of the Vietnamese People overseas, and that this flag may be displayed on any city owned property at any city-controlled or sponsored Vietnamese-American event subject to the permit requirements of the City. The City of Westminster encourages state legislators to pass a law recognizing the flag of the former Republic of Vietnam as the official flag of the Vietnamese-Americans overseas, and encourage the local school districts to adopt a similar Resolution recognizing the flag of the former Republic of Vietnam as the official flag to be displayed in the schools. 
     
     

    PASSED, APPROVED, AND ADOPTED this 19th day of February 2003. 


    AYES:  COUNCIL MEMBER: RICE, PARIS, FRY, MARSH, QUACH


    NOES:  COUNCIL MEMBER: NONE


    ABSENT: COUNCIL MEMBER: NONE  

    _________________________

    MARGIE L. RICE, MAYOR 
     

    ATTEST:  

    ______________________________

    MARIAN CONTRERAS, CITY CLERK 

    -STATE OF CALIFORNIA

    -COUNTY OF ORANGE 
     
     

    I, MARIAN CONTRERAS, hereby certify that I am the duly appointed City Clerk of the City of Westminster, and that the foregoing resolution was duly adopted at a regular meeting of the City Council of the City of Westminster held on the 19th day of February 2003.

    __________________________

    Marian Contreras, City Clerk 






    Little Saigon sắp có kiến trúc rộng 6 mẫu, với hình ảnh Sài Gòn xưa

    Một số kiến trúc mới, mang hình ảnh Sài Gòn xưa, gồm một khách sạn và một chung cư cao tầng cho thuê, sắp được x...



    Little Saigon sắp có kiến trúc rộng 6 mẫu, 

    với hình ảnh Sài Gòn xưa

    Linh Nguyễn/Người Việt

    August 18, 2017

    altHình phác họa dự án, nhìn từ góc đường Bolsa và đường Brookhurst. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


    WESTMINSTER, California (NV) – Một số kiến trúc mới, mang hình ảnh Sài Gòn xưa, gồm một khách sạn và một chung cư cao tầng cho thuê, sắp được xây dựng trên miếng đất hiện bỏ trống, tại góc đường Bolsa và đường Brookhurst, ngay trung tâm Little Saigon.

    “Chúng tôi đã nộp đơn xin giấy phép xây dựng dự án rộng khoảng sáu mẫu, dự trù tốn phí khoảng $120 triệu, nhưng có lẽ phải đợi đến mùa Xuân 2018 mới được thành phố Westminster chấp thuận Hy vọng sau đó sáu tháng chúng tôi sẽ lấy được giấy phép xây dựng,” ông Phạm Hoàng Bắc, chủ nhân công ty Investment Properties Westminster, LLC., nói với nhật báo Người Việt.

    “Dĩ nhiên chúng tôi sau đó cũng còn phải qua những thủ tục tài chánh để được ngân hàng tài trợ. Nói chung là vẫn còn những khó khăn trước mặt nhưng vẫn mong là vượt qua được,” bà Joann Phạm, vợ ông Bắc, góp ý.

    Bà khẳng định: “Dự án này là ý định riêng của chúng tôi, không có một ai khác đầu tư, để giữ tính độc lập làm di sản cho thế hệ sau.”

    Ông Bắc, hiện cũng là chủ nhân khách sạn Ramada Plaz

    “Dĩ nhiên chúng tôi sau đó cũng còn phải qua những thủ tục tài chánh để được ngân hàng tài trợ. Nói chung là vẫn còn những khó khăn trước mặt nhưng vẫn mong là vượt qua được,” bà Joann Phạm, vợ ông Bắc, góp ý.

    Bà khẳng định: “Dự án này là ý định riêng của chúng tôi, không có một ai khác đầu tư, để giữ tính độc lập làm di sản cho thế hệ sau.”

    Ông Bắc, hiện cũng là chủ nhân khách sạn Ramada Plaza ở Garden Grove, cho biết thêm chi tiết về dự án mới, gồm một khách sạn năm tầng có 150 phòng; một chung cư cũng năm tầng có 201 căn hộ, loại một và hai phòng ngủ.a ở Garden Grove, cho biết thêm chi tiết về dự án mới, gồm một khách sạn năm tầng có 150 phòng; một chung cư cũng năm tầng có 201 căn hộ, loại một và hai phòng ngủ.

    altPhác họa “Con đường vui” (Festival Street), nhìn từ đường Brookhurst. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt

    Ngoài ra, dự án cũng dành tầng trệt rộng 60,000 sq ft cho các tiệm bán lẻ và cửa hàng phục vụ khách hàng, và một khu rộng 12,400 sq ft là chỗ để tổ chức các sự kiện, lễ lạc, sinh nhật, và đám cưới.

    “Các gian hàng này sẽ được thiết kế dọc theo ‘con đường vui’ (Festival Street) cho khách bộ hành tản bộ những khi có chợ đêm, hay những dịp lễ lạt trong cộng đồng. Riêng khu tổ chức sự kiện (convention), chúng tôi có thể tổ chức hai đám cưới cùng một lúc. Mỗi đám cưới có thể kê được 40 bàn tròn. Những ai muốn tổ chức đám cưới ngoài trời, chúng tôi có thể tổ chức bên cạnh hồ bơi trên tầng hai,” ông nói.

    “Còn nếu chỉ xếp ghế cho khán giả xem đại nhạc hội, khu này có sức chứa được 1,200 chỗ ngồi,” ông giải thích thêm.

    Nhân dịp này, ông cho biết diễn tiến và nguồn gốc dự án.

    “Ba năm trước chúng tôi tình cờ được Dân Biểu Tiểu Bang Travis Allen mời ăn trưa. Hôm ấy có mặt cựu Dân Biểu Trần Thái Văn, người cho biết từng quen với gia đình Warne, và cho biết họ muốn bán miếng đất,” ông Bắc kể.

    alt

    Phác họa tầng hai của kiến trúc phía trước khu chung cư tương lai, với cầu nối qua khu tổ chức sự kiện, dọc phía đường Bolsa. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

    Ông Bắc cho biết: “Là người Việt tị nạn tới Mỹ sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, vợ chồng tôi trước khi về hưu, dự tính phải để lại cho thế hệ sau một di sản mang hình ảnh của Sài Gòn xưa, để các con tôi và những người trẻ gốc Việt cùng trang lứa có thể nhớ đến cái đẹp của nơi thế hệ cha anh đã phải rời bỏ để đi tìm tự do.”

    “Chúng tôi quyết định mua với giá mà gia đình chủ nhân rao bán. Hôm ấy trước mặt năm luật sư đại diện cho hai bên, có cả Luật Sư Trần Thái Văn, đại diện môi giới cho chúng tôi, chúng tôi đồng ý mua với giá rao bán. Hai bên bắt tay và sau đó ra về,” ông kể.

    Ông cho biết sau đó một tuần, người chủ đòi tăng giá thêm, khoảng trên $300,000 nữa.

    “Chúng tôi cũng đồng ý theo luôn và làm thủ tục giấy tờ ngay, vì chúng tôi sợ họ đổi ý. Miếng đất rộng sáu mẫu, gồm cả 19,000 sq ft của cây xăng góc đường, với điều kiện chúng tôi phải trả tiền hoa hồng 6% cho cả hai bên môi giới,” ông nói.

    Về phương diện tài chánh để có thể mua miếng đất, bà Joann Phạm giải thích thêm: “Chúng tôi cùng là người tị nạn 1975. Anh Bắc khi ấy là kỹ sư cơ khí làm cho Boeing và tôi làm trong lãnh vực tài trợ địa ốc. Sau 25 năm làm công việc này cho công ty Mỹ, năm 2001 tôi thành lập công ty Greenlight Financial Services ở Irvine.”
    Mô hình của kiến trúc sư nộp cho thành phố Westminster. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

    “Công ty của tôi có đến 800 nhân viên. Tháng Năm, 2013, tôi bán lại cho công ty Nationstar Mortgage. Chúng tôi dùng tiền của mình để mua miếng đất này là một quyết định rất hệ trọng, vì chúng tôi có thể mất hết một số tiền rất lớn dành dụm sau 40 năm làm việc. Ngược lại, nếu ơn trên cho mọi chuyện hanh thông, cộng đồng Việt Nam của chúng ta sẽ có một nơi sinh hoạt khang trang kiểu ‘French Colony Style,’ với hình ảnh Sài Gòn xưa được thu nhỏ,” bà nói.

    Ông Bắc giải thích lý do gợi nhớ đến Sài Gòn: “Kiến trúc hai tầng góc Bolsa và Brookhurst sẽ có hình tháp đồng hồ của chợ Bến Thành. Nếu từ tầng trệt nhìn ra, sẽ thấy góc nhìn như khách sạn Continental. Lối vào trên đường Brookhurst, hai bên là hàng quán bán lẻ. Bên phải là khu chung cư chiếm từ tầng thứ hai đến tầng thứ năm. Cuối đường này là cổng khách sạn. Một lối vào khác trên đường Bolsa cũng dẫn đến cổng khách sạn.”

    Ông cho biết có hai bãi đậu xe, một ở khu khách sạn, và một ở phía sau khu chung cư.

    “Vì là dự án với tầm cỡ lớn nhưng kiến thức chúng tôi lại giới hạn, nên chúng tôi phải tốn rất nhiều tiền. Tiền giấy tờ và thuê khoảng tám văn phòng kiến trúc sư vẽ họa đồ, và đóng thuế thổ trạch ba năm qua (mỗi năm $170,000) cũng tốn hơn $1 triệu rồi,” ông kể.

    Theo ông Bắc kể, sau cùng, tuần trước thành phố có buổi họp để duyệt lại dự án, dưới sự chủ tọa của Thị Trưởng Tạ Đức Trí.

    “Dự án này là một di sản cho thành phố Westminster, nói chung, và cho cộng đồng tị nạn Việt Nam, nói riêng,” ông Trí nói, theo lời kể của ông Bắc.

    Rồi thành phố chấp thuận công ty kiến trúc KTGY Architecture and Planning of Irvine, và công ty này đại diện lo giấy tờ công trình xây dựng dự án của công ty Investment Properties Westminster, LLC của vợ chồng ông Bắc.

    Nhật báo Người Việt có liên lạc ông Steve Ratkay, xử lý thường vụ quản lý ban quy hoạch thành phố, để biết tình trạng hồ sơ xin giấy phép của dự án này, nhưng đến khi báo lên khuôn vẫn chưa nhận được hồi âm.

    Dự án hỗn hợp nhà ở và thương mại này được biết là phù hợp với đồ án tổng quát của thành phố mới được điều chỉnh.

    —————-
    Liên lạc tác giả: linhnguyen@nguoi-viet.com


                                                 Ngô Kỷ và  ông Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí trong buổi lễ gắn bảng tên đường Saigon             

    Ngô Kỷ phỏng vấn ông Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí trong cuộc biểu tình chống chủ tịch Tàu cộng Tập Cận Bình đến California

    http://i1104.photobucket.com/albums/h330/ngokycali/Ngo%20Ky%202/Ngo%20Ky%202001/nnkk1118_zps9znpdhkl.jpg














    __._,_.___


    Posted by: Ngo Ky

    0 0

    : 45 Năm nhớ về ngày "Địa Ngục Trần Gian"⁩







    MEMORIAL DAY NHỚ VÀ MANG ƠN NHỮNG CHIẾN HỬU ĐẢ NẰM XUỐNG ĐỂ TÔ ĐẬM QUÂN SỬ VIETNAM CỘNG HÒA.....

     An Lộc được 45 Năm nhớ về ngày "Địa Ngục Trần Gian"giải tỏa -17g45 ngày 8 tháng 6 năm 1972.


    AnLoc July 3, 1972 - REINFORCEMENTS WELCOMED

    Bỗng chốc thị trấn nhỏ về cực đông-nam phần cuối con đường 13 biến thành địa danh vang dội toàn thế giới... Guernica, Arden, Berlin của Thế Chiến lần Hai không còn ý nghĩa khi so với thị trấn bề dài 1800 thước và bề ngang từ cửa Phú Lổ đến hàng rào phòng thủ tiểu khu đo đúng 1000 thước. Trên diện tích bé nhỏ nầy, lại nhỏ hơn nữa của những ngày “tử thủ”, khi thành phố “co” lại với khoảng 900 thước bề dài còn lại-Một ô vuông cây số hứng chịu gần 60 ngàn quả đạn, đạn đại bác bắn tập trung từ mười vị trí trở lên trong 100 ngày vây khốn. Thế nhưng, An Lộc đã chịu đựng được. Quân và Dân ở An Lộc đã chịu đựng được. Chịu đựng- Sức mạnh tự nhiên không bờ, không đáy- Với nó, trong đó, Người Việt ngụp lặn miệt mài để tồn tại.


    Sống! Thượng Đế ban món quà hiếm hoi quý giá này cho dân tộc ta quá khó khăn, hẹp lượng. Chỉ được sống, đám dân và lính ở An Lộc đã phải căng mình hứng chịu dài cơn bão săm sắp tiếng nổ và mảnh thép, trong ba tháng. Họ lên đến những “đỉnh” đau đớn chóng mặt, như từ một độ cao hai trăm thước, người mẹ sẩy tay đánh rơi đứa con khi trực thăng chao mạnh. Cái chấm nhỏ bé tội nghiệp rơi dần dần vào một cõi xa xăm mất hút...Không nghe được tiếng động của thân thể trẻ thơ đập mạnh trên đất đá. Không có tiếng thét bi ai của người mẹ mất con... Chỉ âm động phần phật cánh quạt phi cơ và gió bạt trên không gian im lặng. Từ đỉnh cao hai trăm thước đến vực sâu hai thước giữa lòng đất đỏ lạnh tanh, người cha bình thản ngồi xếp ngay ngắn, thẳng hàng hình hài năm đứa con và người vợ, sau khi đã đặt tay chân đúng vào thân thể của mỗi đứa.

    Nỗi đau đớn dài như con đường 13 từ An Lộc về Chơn Thành. Lai Khê, Bình Dương, An Lộc, Lộc Ninh... Tên đặt ra nghe sao quá thê thảm, tội nghiệp, làm gì có “bình an” nơi miền Đông tàn khốc này.. Tất cả chỉ là ước vọng Nói thật hơn, chỉ là những hư vọng khó có lần hiện thực- Ảo giác mù mờ khi con người đã đến đáy khốn cùng. Chạm tay sự chết

    Trong qui ước truyền tin quân đội, chữ A được đánh vần là “Alpha” hay “Anh Dũng”.An Lộc cũng bắt đầu với chữ A, thế nên tôi gọi “An Lộc là Anh Dũng”; tĩnh từ này đã được dùng quá nhiều, đến độ nhàm chán, nhưng ngoài nó ra không còn một danh từ nào xác thực và đúùng đắn hơn. Phải, An Lộc là Anh Dũng. Chiến đấu ở An Lộc- Sống ở An Lộc- Chết ở An Lộc - Tất cả đều trùng trùng tràn ngập, vây kín, kích động bởi tính chất anh hùng. Tôi không nói quá lời, với chân thật của người cầm bút và tấm lòng giản dị của người lính, xin xác nhận lại một điều: An Lộc - Anh Dũng. Yếu tính của thành phố, người và sự kiện nơi An Lộc là tỉnh từ giản dị đầy đủ kia. 

    Mười năm kinh qua trận địa, bao nhiêu trang sách về binh sử đã được đọc, tất cả đều bị An Lộc vượt xa, vượt một tầm quá lớn mà không một trận chiến nào có thể bén gót được. Kiến thức quân sự, ý niệm chiến tranh, tất cả bị đổ nhào vô nghĩa, vô dụng với An Lộc. Chắc chắn như thế, nếu ai hằng đến sống, chết cùng với nơi chốn ấy một lần. Những “huyền thoại” về An Lộc đã được khai thác, nhưng không hết. Những người kiệt liệt của An Lộc đã được nhiều nhắc nhở nhưng chưa đủ. Tôi nối tiếp công việc này vì An Lộc không những chỉ có Tướng Hưng với các Trung Đoàn 8, 9, 48, 52 của Sư Đoàn 5 Bộ Binh; Đại Tá Huấn với Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù; Liên Đoàn 3 BĐQ, và Đại Tá Nhật với thành phần cơ hữu Tiểu Khu Bình Long. Ngoài những lực lượng này, còn có Lữ Đoàn I Nhẩy Dù, đơn vị tham chiến từ ngày 7-4, bắt tay An Lộc lần một vào ngày 16-4 và lần thứ hai sau trận đánh trên tất cả các trận đánh, Tiểu Đoàn 6 Dù “clear” hai cây số còn lại vào đến Thanh Bình (hay đồn điền Xa Cam) trong “bốn mươi lăm phút chiến trận”.An Lộc được “bắt tay” lần thứ hai lúc 17g45 ngày 8 tháng 6 năm 1972.
    . .
    Vượt hẳn hết ý niệm từ trước, bỏ xa trí tưởng tượng đã xếp đặt, An Lộc không “hư” từng khu, không đổ từng khóm, An Lộc vỡ nát, vỡ tan tành, vỡ vụn...Không còn sự sống trên mặt đất, không còn dấu vết người trên mặt đất . . . 
    Phan Nhật Nam (Mủa Hè Đỏ Lửa)




    Đây An Lộc !



    "An Lộc địa sử ghi chiến tích
    Biệt Kích Dù vị quốc vong thân"
    Ai từng đi qua An Lộc một lần
    Mỗi lớp đất là một từng máu thắm

    Rừng cao su hai bên đường xanh thẳm
    Từng được tưới bằng bao dòng máu đỏ tươi
    An Lộc đã có lúc không còn tiếng nói cười
    Không sự sống dù con giun con dế

    An Lộc đó , mồ chôn trai thế hệ
    Bao gia đình tan nát của cả 2 bên
    Bị vướng vào cơn bão lửa kinh thiên
    Tất cả đều gom vào đây ... An Lộc





    Pháo cao xạ tự hành ZSU-57-2 do Liên Xô chế tạo viện trợ cho Bắc quân tan xác tại An Lộc 1972

    Những vũ khí bạo tàn kinh khiếp nhất
    Ðều được đem vào và thử lửa tại đây
    Bao tuổi thanh xuân tràn nhựa sống căng đầy
    Tất cả đều lên đường vào An Lộc

    An Lộc , An Lộc ơi trận thư hùng tàn khốc
    Vượt quá xa mọi khái niệm chiến trường
    Và những gì là cuộc chiến đau thương
    Không thể hiểu , nếu chưa vào ... An Lộc

    Những con số làm người ta chóng mặt
    Và cho dù giàu tưởng tượng đến đâu
    Cũng khó hình dung sao trên mặt địa cầu
    Lại có một bãi chiến trường như thế

    Từ lon CoCa chí đến con búp bê
    Cả lọ hoa đến đôi guốc gầm giường
    Tất cả đều in hằn dấu vết tang thương
    Vì chúng đã ở nơi đây ... An Lộc

    Ðá chẳng thể lăn, cây không còn mọc
    Tất cả đều như đang chìm đắm cõi âm
    Vạn vật im lìm , nghiệt ngã , âm thầm
    Kinh hoàng trùng trùng dấu còn in đậm

    Tất cả ngôn từ đều đã dùng sạch nhẵn
    Chỉ còn biết kêu lên hai tiếng ... than ôi !
    Giấy mực không sao diễn đạt hết ý người
    Khi bạn đứng ở trong lòng ... An Lộc




    Từ mắt bạn thu những gì là tàn khốc
    Từ tai bạn nghe những rên xiết khóc than
    Từ mũi bạn ngửi mùi tử khí mang mang
    Từ da rờn rợn những âm hồn ma quỷ

    Ở An Lộc mọi giác quan không ngừng nghỉ
    Cuối mắt đầu môi chí đến kẽ tay chân
    Tất cả đều dựng lên cảnh giác âm thầm
    Và tiếp nhận những gì từ ... An Lộc

    Giống như bao thứ làm ra trên mặt đất
    Những thứ nào từ An Lộc đem ra
    Tất cả đều có dấu binh lửa in qua
    Ðồ An Lộc có dấu hiệu riêng như thế

    Lửa An Lộc không phải lửa lò rèn ống bễ
    Lửa cháy bùng không do củi do than
    Mà lửa cháy là do thịt do xương
    Lửa Napalm , lửa xặc mùi tử khí

    Mưa thì sao , mưa An Lộc cũng thế
    Chẳng phải mưa phùn , lất phất gợi tình yêu
    Chẳng phải mưa rào làm tươi mát buổi xế chiều
    Mưa tan tác , mênh mông , cơn ... " mưa pháo ".




    Mưa không đếm bằng 2 , 3 hay 5 , 6.
    Mà đếm bằng hàng chục , với hàng trăm
    Người đi mưa không mặc áo ny lông
    Mà phải chui sâu thật sâu xuống đất

    Pháo không đến từ 1 , 2 đại bác
    Mà đến từ rải rác khắp nơi nơi
    Pháo dọc, pháo ngang, pháo chéo, pháo liên hồi
    " Hoả tập tiểu liên " , khắp đông , tây , nam , bắc.



    Thiếu tá Nguyễn Sơn của LĐ81BCD tại An Lộc 14/6/1972

    An Lộc không được giữ bởi những người rô bô sắt
    Mà giữ bằng những người lính rất bình thường
    Biết yêu gia đình và yêu tha thiết quê hương
    Biết mê mệt , đắm say , trong vòng tay con gái

    Những buổi chia tay làm lòng người ái ngại
    Chiến tranh ơi sao thật lắm gian lao
    Những cánh tay đưa vẫy vẫy nuốt nghẹn ngào
    Tiễn các anh lên đường vào lửa đạn





    Ngày 12-04-1972, Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù mới đặt chân đến quận Chơn Thành sau 7 ngày chạm trán với Cộng quân để giải toả một khoảng đường không quá 30 cây số.

    Image by © Bettmann/CORBIS




    Những cánh Dù nằm trên vai ngạo mạn
    Tuổi trẻ các anh sừng sững một đời trai
    Những câu đùa pha lẫn chút mỉa mai
    Của anh lính Nhảy Dù trong đơn vị

    " Rớt tú tài thì anh đi trung sĩ
    Em ở nhà em lấy Mỹ nuôi con
    Ðến khi nào mà hết giặc nước non
    Anh về anh có Mỹ con anh bồng … "

    Những thiếu nữ đang tiễn chồng đỏ mặt
    Rúc đầu vào trong ngực áo người trai
    Rừng Lai Khê còn văng vẳng tiếng ai
    Ðang nghêu ngao bài ca "Rừng Lá Thấp".




    Ai biết các anh chờ hành quân trước mắt
    Mới nhìn qua tưởng đang cắm trại thôi
    Sân bay này chứng kiến triệu lần rồi
    Những nụ hôn đắm say giờ tiễn biệt

    Những chia ly của tình yêu tha thiết
    Ai cảm tình bằng người lính Việt Nam
    Tôi tin rằng bên kia nửa giang san
    Cũng có những cuộc chia tay như thế

    Anh bộ đội lên đường vào đây để
    Quyết một lòng chiếm trọn được miền nam
    Rặng Trường Sơn bao thử thách gian nan
    Không chặn nổi bước đoàn quân thiện chiến



    Nhảy dù tăng viện vào chảo lửa An Lộc trên đường 13 (Image by © Bettmann/CORBIS)


    Nhưng An Lộc , các anh không thể tiến
    Vì ở đây có một thứ lính rất người
    Biết yêu đương , biết đùa nghịch , khóc , cười
    Sư đoàn 5 , Biệt Kích , và lính Nhảy Dù Nam Việt

    Ðây An Lộc, chiến trường đầy cay nghiệt
    Các công trường nhất quyết tiến mới thôi
    Còn quân Nam, cũng nhất định chết không lui
    Và An Lộc , trận thư hùng khủng khiếp

    Một bên chiến đoàn 202 , 203 tùng thiết
    Một bên thì cũng Lôi Vũ , Lôi Vân
    Công trường 5, 7, 9 và Bình Long của Bắc Việt
    Sư đoàn 5 , Biệt Kích , Lữ Ðoàn Dù vào trận địa


    13 Jun 1972, Lai Khe, South Vietnam --- 6/13/1972-Lai Khe, South Vietnam: Line of Helicopters of the U.S. First Air Cavalry Division land in formation at Lai Khe
    to pick up troops of the South Vietnamese Second Division and bring them to An Loc. --- Image by © Bettmann/CORBIS


    Những thây người thi đua nhau ngã quỵ
    Những thịt xương vụn tan nát rã rời
    Những quyết tâm của hàng chục vạn con người
    Tất cả đều dồn vào cơn binh biến

    Từng xe tăng bị loại ra ngoài vòng chiến
    Các đại bàng cũng tơi tả xác thân rơi
    Ôi ! động địa kinh thiên , lở đất long trời
    Hoá thành bụi cũng chỉ vì ... AN LỘC.

    Ðổ nát , tan hoang , kinh hoàng , tàn khốc
    Những thiệt hại làm nhức óc cả đôi bên
    Một cánh quân Dù vừa mới bị xoá tên
    Gần một công trường cũng phơi thây chật đất



    Lưới lửa phòng không lừng danh Nam Bắc
    Vẫn hàng ngày " tiếp đón " các đại bàng
    Những cánh chim rơi , gần hết cả phi đoàn
    Nhiều ụ phòng không cũng tan tành xác pháo

    Ðêm Sài Gòn vẫn vui chơi tỉnh táo
    Em ca ve ngồi lọt thỏm trong lòng
    Vui đêm nay , mai em biết có còn không
    Cô vũ nữ cúi đầu rưng nước mắt

    Chuyện ngày maỉ Ôi! chuyện còn xa lắc
    Lo làm chi cứ để đó tính sau
    Rót rượu đi em , cho anh giải cơn sầu
    Trước khi cất bước lên đường vào đơn vị

    Và cứ thế , dòng dời trôi không ngừng nghỉ
    Ai hay đâu những trắc ẩn chiến trường
    Súng đạn , giai nhân , là những chuyện bình thường
    Sao biết được cuộc đời mình tốt , xấu ?

    Phi hành đoàn rơi , số phận càng đẫm máu
    Xoa bột thuỷ tinh , viên phi công hỏng con ngươi
    Lưỡi lê rọc quanh đầu người xạ thủ thét thấu trời
    Khi mảnh tóc lẫn da đầu lột ngược

    Trận địa nào mà người lính lo từ trước
    Viên đạn sau cùng để dành lại chính anh
    Ðược chết đi để khỏi bị hành hình
    Chuyện chỉ có ở nơi đây ... AN LỘC


    Khóc đồng đội


    Người lính Biệt Cách Dù ngồi nắn ót kẻ tên trên bia mộ những đồng đội .


    Hôm nay ngồi nhớ lại vùng địa ngục
    Nhớ bạn bè thân xác đã tan hoang
    Nhớ đến câu : " trai tuý ngoạ sa trường "
    Chợt bỗng thấy trong tim mình đau thấu

    Ngọn cỏ bụi cây , còn tanh tanh mùi máu
    Góc núi ven rừng rợn tử khí vương vương
    Nếu bạn dừng xe , bốc nắm đất vệ đường
    Chắc cũng có bụi xương người trong đó

    Ði vào rừng có thể đạp nhằm xương sọ
    Hay cũng còn nhặt được khúc xương chân
    Những dấu tích kia sẽ là những chứng nhân
    Của vùng đất một thời là địa ngục ... !
    Ôi ... An Lộc !

    Bài thơ "Đây An Lộc !" kèm theo những hình ảnh từ HP của Hội Quán Phi Dũng với ký danh ST không biết có phải tên tác giả hay không?


    LIFE Magazine Apr 28, 1972 (1) - REPORT FROM THE INFERNO - Giao tranh dữ dội tiếp tục tàn phá VN - Tường trình từ địa ngục


    13 May 1972, An Loc, Vietnam --- South Vietnamese artillery soldiers during battle. (Image by © Henri Bureau/Sygma/Corbis)


    22 May 1972, South of An Loc, Vietnam --- A South Vietnamese soldier takes cover behind some debris during fire from Communist 122 mm rockets. (Image by © Bettmann/CORBIS)



    Một hàng gồm 5 xe tăng cộng quân bị bắn cháy bởi M-72 của các chiến sĩ LĐ81/BCD QLVNCH trên dốc đường Ngô Quyền, con đường dẫn vào An Lộc từ phía Lộc Ninh


    Những người lính Liên Đoàn 3 BĐQ tải thương giữa xác tăng của Bắc quân trong thị trấn An Lộc


    Người lính VNCH đứng trên xác tăng của cộng quân bị bắn cháy tại An Lộc


    LIFE Magazine May 12, 1972 (4) - An Loc





    Hình này của đại tá Walter Ulmer, cố vấn trưởng SĐ5BB , người thay thế đại tá William Miller vào ngày 10/5/1972, chụp vào một ngày đầu tháng 6/1972



    30-6-1972 - CẢNH ĐIÊU TÀN CỦA AN LỘC -- Binh sĩ Nam VN khảo sát tàn tích của An Lộc khi giao tranh lắng dịu trong trận chiến kéo dài hai tháng giành giật tỉnh lỵ nhỏ bé này. Quân BV đã sử dụng toàn lực chiến xa, pháo đủ loại hủy diệt thị trấn này suốt gần 2 tháng nhưng đã không chiếm được An Lộc.



    Trực thăng đổ quân tiếp viện phía nam An lộc giải tỏa toàn thể thị trấn trên QL13, ngày 13-6-1972




    An Lộc 6/ 1972 - tượng đài chiến sĩ phía trước sân vận động Bình Long








    Không ảnh khu vực đầu thị xã An Lộc, tháng 5-1972








    AN LỘC (21/6/1972) -- NHỮNG VẬT NHẮC NHỚ SỰ HỦY DIỆT -- Tất cả những gì còn lại của một ngôi nhà, bên trái, là một vị thần hộ mạng gia đình người Hoa sau cuộc vây hãm kéo dài hơn hai tháng tại An Lộc. Chiếc sọ người nằm trên một xe tăng tan tành của quân Bắc VN là một vật nhắc nhớ khác về trận chiến dữ dội đã diễn ra tại thành phố tỉnh lỵ ở phía bắc Sài Gòn này. (AP Wirephoto)












    Ngồi giữa đống đổ nát của chiến tranh, người lính Nam VN này đang rót một chén rượu để đặt lên mộ người vợ của mình tại An Lộc, phía bắc Sài Gòn.
    Người phụ nữ này đã được chồng chôn cất ngay trong ngôi nhà đổ nát của gia đình bà trong thành phố bị tàn phá nặng nề,
    nơi nhiều thường dân đã tử thương trong cuộc giao tranh.

    Tuổi thơ An Lộc 1972







    Thánh lễ đầu tiên sau hai tháng tạm ngưng kể từ ngày xảy ra trận chiến An Lộc. (Trong hình là Cha Minh, Chánh xứ An Lộc từ 1970)
    được tổ chức tại nhà Thờ An Lộc ngày 24 tháng 6, 1972




    Ảnh chụp ngày 18/6/1972 tại An Lộc. Những người dân sống sót sau trận chiến An Lộc đang tham dự thánh lễ đầu tiên sau 2 tháng tại ngôi nhà thờ đổ nát của thành phố An Lộc. Cuộc chiến đã lắng dịu , cho phép người dân tại Thị trấn này rời khỏi các căn hầm trú ẩn. Để ý những bức tường và cột nhà đầy những vết đạn. (AP LASERPHOTO)



    LD981 BCD về hậu cứ Lai Khê từ Địa ngục An Lộc


    Cái bắt tay lịch sử giữa Người Hùng Tử Thủ An Lộc, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng TLSĐ5BB và Đại tá 
    Tư Lệnh Phó SĐND


    Đại tá Điềm SD95, Đại tướng Cao Văn Viên, Chuẩn tướng TLSĐ5BB Lê Văn Hưng và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
    trước hầm Chỉ Huy mặt trận An Lộc ngày 7 tháng 7-1972













    Virus-free. www.avast.com







    __._,_.___


    Posted by: NANCY DANG 

    0 0


    Trận đánh Bộ TTM-QLVNCH, hay là ‘chiến công trên… giấy báo?’

                                                                                          Tạp ghi Huy Phương - August 13, 2017


    Image result for Trận đánh Bộ TTM-QLVNCH, hay là ‘chiến công trên… giấy báo?’
    Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH trước năm 1975


    Ðại Tá VNCH Chu Văn Hồ, nguyên chỉ huy trưởng Trung Tâm Ðiện Toán Nhân Viên, Phòng Tổng Quản Trị, Bộ TTM-QLVNCH, hiện cư ngụ tại New Jersey là sĩ quan cao cấp duy nhất có mặt tại Bộ TTM-VNCH vào trưa ngày 30 Tháng Tư, 1975 Ông được Bảy Vĩnh, đại diện quân Bắc Việt, vào tiếp thu Bộ TTM, cấp cho tờ giấy giới thiệu, “tạm thời có nhiệm vụ bảo quản của công!” trong khi chờ đợi các lực lượng Việt Cộng vào.

    Theo lời Ðại Tá Hồ, sáng hôm đó, sau khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, thì Bộ TTM là một ngôi nhà không chủ, bỏ trống, không còn binh sĩ, chỉ có một số đơn vị trưởng ở lại để “chờ bàn giao” theo lệnh.

    Vào khoảng 10 giờ 30 sáng, có một cán bộ Bắc Việt tên Bảy Vĩnh (trên giấy tờ ghi là Quân Ðoàn Trưởng QÐ 2 giải phóng thủ đô) đi trên xe Jeep do một tài xế tên Suốt (phục vụ tại Phòng 7 Bộ TTM làm nội tuyến) đến gặp Ðại Tá Chu Văn Hồ ở Trung Tâm Ðiện Toán Nhân Viên, mượn thang lên treo cờ ở tòa nhà chính, rồi ra về, đến tối mới dẫn một toán quân đi từ cổng số 1 vào. Khi đó, quân phòng thủ Bộ TTM không còn ai nữa.

    Bảy Vĩnh đóng quân tại Trung Tâm Ðiện Toán của Ðại Tá Chu Văn Hồ, mấy ngày sau mới bàn giao cho chuyên viên ở Bắc Việt vào.

    Theo một bài báo của Tướng Cộng Sản Trần Văn Trà đăng trên tạp chí Ngày Nay, số đề ngày 1 Tháng Năm, 1990, xác nhận người vào Bộ TTM đi bằng xe Jeep, gặp Ðại Tá Hồ, sau đó lên tòa nhà chính cắm cờ với sự trợ giúp của một hạ sĩ là nội tuyến! Không một tiếng súng!

    Chấm hết!

    Nhưng theo sách vở và sự tuyên truyền của Bắc Việt, 55 ngày đêm chiến đấu của Việt Cộng là thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, vũ bão, sáng tạo, và ca tụng kiểu Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng!”

    Nếu với chỉ một chiếc xe Jeep, chiến lợi phẩm lượm dọc đường và một tên lính nằm vùng, Bảy Vĩnh vào Bộ TTM-QLVNCH treo cờ mà không cần bắn một phát súng, đổ một giọt máu, thì trận đánh chiếm miền Nam có còn chi là hào hùng, vũ bão!

    Ðể lừa bịp hậu sinh và dân chúng miền Bắc, 10 năm sau, trận chiến này được vẽ lại trên mặt báo:

    • Trong cuốn “Tự Ðiển Bách Khoa Quân Sử” của Bộ Quốc Phòng CSVN xuất bản năm 2004 tại Hà Nội, do hơn 100 tướng lãnh và hơn 1,000 đại tá viết, trong trang 1023, trong bài “Trận Bộ Tổng Tham Mưu,” đã viết ra những dòng trên giấy, vẽ ra một trận tiến công tưởng tượng như sau:

    “Lực lượng địch tại Bộ TTM khoảng 4,400 quân (gồm cơ quan văn phòng, 1 tiểu đoàn tổng hành dinh, 1 tiểu đoàn truyền tin, 1 đại đội quân cảnh, 1 chi đoàn xe tăng thiết giáp, 2 đại đội pháo và súng cối…) Ngoài ra, còn có lực lượng bảo vệ vòng ngoài của hệ thống phòng thủ Sài Gòn. Với sức mạnh áp đảo, sáng 30 Tháng Tư, ta tiếp tục tiến công tiêu diệt các ổ đề kháng và lực lượng phản kích của địch, hình thành nhiều mũi đột phá cổng chính và cổng 1, 2, 3, đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu trong Bộ TTM, làm chủ và kết thúc trận đánh lúc 11 giờ 30 phút. Kết quả diệt, bắt và làm tan rã toàn bộ quân địch:

    -Thu và phá hủy gần 200 xe quân sự (phần lớn là xe tăng và xe bọc thép),

    -Sáu khẩu pháo,

    -Bắn cháy hai máy bay trực thăng,

    -Thu hơn 3,500 súng bộ binh và nhiều tài liệu quan trọng…”

    • Trong “Những trận đánh làm nên lịch sử” do nhà xuất bản Quân Ðội Nhân Dân, Hà Nội, xuất bản, bài “Ðánh chiếm Bộ Tổng Tham Mưu:”

    “Ðến cổng số 3, Ðại Ðội 6 gặp địch ngăn chặn, súng máy, súng tiểu liên của chúng quét như vãi đạn từ các ô cửa xuống mặt đường, năm chiến sĩ của ta bị thương nặng phải đưa về phía sau. Phải chia cắt để tiêu diệt địch ta mới có thể vào sâu bên trong, chính trị viên Trần Hạng trao đổi với đại đội phó Nguyễn Ðức Dương và lập tức Ðại Ðội 6 tách thành hai mũi. Chính trị viên Hạng chỉ huy mũi thứ nhất vượt qua làn đạn, nhằm hướng Bộ Tổng Tham Mưu tiến vào. Mũi thứ hai do đại đội phó Dương chỉ huy sử dụng M48 bao vây địch ở khu tiếp liệu, tới tấp nã đạn về phía quân ngụy. Chỉ 10 phút sau, tiếng súng địch im bặt.

    “Ở ngoài cổng số 6, Ðại Ðội 5 cùng Trung Ðội 2, Ðại Ðội 7 dùng pháo cối chế áp cùng hai chiếc K63, bốn chiếc M48, đột kích thẳng vào khu nhà hai tầng. Nhưng bọn địch đã lập tức di chuyển về phía sân vận động và bắn như điên cuồng về phía quân giải phóng.

    “Lúc này, binh lính địch quăng súng, lột áo chạy tháo thân, tiểu đoàn biệt kích dù, tiểu đoàn bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu tan rã nhanh chóng.

    “Chỉ một lát sau, lá cờ giải phóng đã tung bay tên nóc nhà Bộ Tổng Tham Mưu ngụy, trong tiếng reo hò của quân ta và nhân dân vùng phụ cận !!!”

    Image result for Trận đánh Bộ TTM-QLVNCH, hay là ‘chiến công trên… giấy báo?’
    Thông Tấn Xã Việt Nam, Tháng Tư, 2015, có bài “Cắm cờ trên nóc Bộ Tổng Tham Mưu:”

    “Qua 40 năm nhưng ông Ðông vẫn nhớ như in từng chi tiết với nỗi niềm tự hào của người lính cụ Hồ. Ông kể vào khoảng 11 giờ kém 20 ngày 30 Tháng Tư, 1975 theo đường Trần Xuân Soạn tiến về đường Hàm Nghi, Tiểu Ðoàn 2 đánh thẳng vào cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu ngụy quyền Sài Gòn. Lúc này cuộc chiến đấu vô cùng ác, Tiểu Ðoàn 2 không thể thọc sâu tấn công được.

    “Theo lệnh của chỉ huy trưởng Thiều Quang Nông xe bọc thép tiến vào cổng số 2 Bộ Tổng Tham Mưu. Hai lô cốt bị tiêu diệt, thừa thắng xe bọc thép húc tung cánh cửa Bộ Tổng Tham Mưu tiến vào nội tâm. Lúc này xe tăng của ta và quân giải phóng đồng thời tiến vào đánh chiếm các mục tiêu quan trọng của giặc. Ông Ðông hồi tưởng lại.

    “Trong đó, xe bọc thép chờ đội trinh sát của ông Ðông lao thẳng vào tòa nhà ba tầng cao nhất. Ông Ðông nhẩy xuống trước, các đồng đội theo sau hỗ trợ. Phía trong nhà Bộ Tổng Tham Mưu còn rất nhiều giặc. Nhanh trí, ông Ðông đã khống chế một tên địch và bắt dẫn lên lối gần nhất nóc nhà ba tầng.

    “Sau khi cả đội lên đủ năm người,mỗi người một nhiệm vụ, phối hợp nhanh chóng cắm được lá cờ của lực lượng giải phóng. Ông Ðông mở ba lô lấy cờ, ông Lại Ðức Lưu tung cờ, ông Ðỗ Xuân Hương lồng cờ vào cán.”

    Từ câu chuyện ông Bảy Vĩnh với sự trợ giúp của một anh lính nằm vùng trong Bộ TTM, mượn thang treo cờ, biến thành câu chuyện có đến ba anh chàng trong “toán treo cờ,” anh mở ba lô lấy cờ, một anh tung cờ, một anh lồng cờ vào cán, thật là rắc rối!

    Ngoài ra, còn nhiều báo và phim bịa đặt nói về trận đánh Bộ TTM và cắm cờ ngày 30 Tháng Tư, 1975, trong phim có nhiều anh bộ đội chạy lúp xúp, nấp sau gốc cây, nhưng lúc quay phim thì toàn bộ các tòa nhà Bộ TTM đã sơn màu khác rồi!

    Trận đánh vào Bộ TTM, lúc thì Cộng Sản cho là do công của Trung Ðoàn 48, khi thì nói là của Biệt Ðộng Sài Gòn.

    Phỏng vấn những nhân vật tưởng tượng không tham gia gì trận đánh như Ðại Tá Nguyễn Văn Tàu và Ðại Úy Lương Hoài Nam, và những nhân vật tự nhận là người cắm cờ đầu tiên ngày 30 Tháng Tư, 1975 ở Bộ TTM.



    Image result for Lược Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa


    Image result for Trận đánh Bộ TTM-QLVNCH, hay là ‘chiến công trên… giấy báo?’

    Ðể tìm hiểu sự thật của lịch sử, xin đọc “c S Quân Lc Vit Nam Cng Hòa”, xuất bản năm 2011 (trang 849-854) của các tác giả Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, và Lê Ðình Thụy, đã in thủ bút của Bảy Vĩnh khi vào gặp Ðại Tá Chu Văn Hồ, chứng nhận Ðại Tá Hồ “đã bàn giao cho cách mạng.” Không có đơn vị Cộng Sản nào đánh chiếm Bộ TTM ngày 30 Tháng Tư, 1975, thì làm gì có việc Bắc Việt đã tiến công bắn hạ hai trực thăng, phá hai khẩu pháo, hàng trăm xe bọc thép, và tịch thu hàng nhìn khẩu súng.

    Ðây là những chiến công tưởng tượng chỉ có trên mặt giấy… báo.

    Nhất là đoạn văn “cờ được treo trong tiếng reo hò của quân ta và nhân dân vùng phụ cận!” thì quả là phét lác quá sức. Lúc đó có một mình ông Bảy Vĩnh thì “quân ta” ở đâu mà reo, và trong khu vực Bộ TTM rộng lớn ở xa phố xá thì lấy đâu ra dân mà hò?

    Cuối cùng thì vẫn là: “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói…” Bệnh mãn tính Cộng Sản là sự dối trá. Viết sử giả tạo không đúng sự thật, cũng giống như người làm chứng gian, để cho đời sau rơi vào sự lầm lạc.

    “Chủ nghĩa Cộng Sản và sự dối trá là một; và để chúng ta thấy rằng dối trá là hiện tượng thuộc về bản chất của các xã hội Cộng Sản trên toàn thế giới.” (Bauxit online).

    ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~


    Virus-free. www.avastcom

    __._,_.___


    Posted by: "Tran Van Long" 

    0 0





    On Friday, August 25, 2017, 8:23:29 PM GMT+8, TRUONG-AN  [ChinhNghiaViet] <ChinhNghiaViet@yahoogroups.com> wrote:



     

    From:AnNam <

    To:
    Sent: Thursday, 24 August 2017, 22:13
    Subject: Tuyển Tập Chế Độ Ngô Đình Diệm


    Tuyển Tập Chế Độ Ngô Đình Diệm

    50 Năm Nhìn Lại 1963 - 2013

    106 bài viết - 99 tác giả

     30-Oct-2013

    Tuyển tập 106 bài viết của 99 tác giả

    và những lời Phê phán của100 Chứng nhân

    về chế độ Ngô Đình Diệm


    ● Thomas Ahern, Jr. ● Vũ Bằng ● Nguyễn Văn Bông ● Peter Brush
    ● Nguyễn Trí Cảm ● Nhóm Caravelle ● Niguel Cawthorn 
    ● Vũ Ngự Chiêu ● Vũ Hoàng Chương ● Lê Cung 
    ● Ngô Diệp ● Cao Thế Dung ● Lý Nguyên Diệu 
    ● Phan Quang Đán ● Chính Đạo ● Cao Hữu Điền 
    ● Lương Hữu Đính ● Trần Kiêm Đoàn ● Trần Văn Đôn 
    ● Phan Lạc Giang Đông 
    ● Góp Gió ● Bobby Ghosh 
    ● Nguyễn Phan Hoàng ● Lê Mạnh Hùng 
    ● Nguiễn Ngu Í ● KHHB 
    ● Bùi Kha ● Nguyễn Kha ● Bảo Quốc Kiếm ● Phan Ký 
    ● Trần Lâm ● Thái Kim Lan ● Nguyễn Lang 
    ● Nguyễn Hiến Lê ● Lịchsửviệtnam.info ● Khúc Hà Linh ● Lê Nguyên Long 
    ● Chính Luận ● Trịnh Bá Lộc ● Vũ Tài Lục ● Nguyên Ly 
    ● Avro Manhattan ● Hoành Linh Đỗ Mậu 
    ● Minh Không Vũ Văn Mẫu 
    ● Trần Chung Ngọc ● Định Nguyên ● Minh Nguyện 
    ● Lê Chân Nhân ● Lý Đương Nhiên ● Quán Như 
    ● Trần Ngọc Nhuận ● Hoàng Nguyên Nhuận ● Lê Xuân Nhuận 
    ● Nguyễn Hữu Phiếm ● O.V.V.
    ● Nguyễn Kỳ Phong ● Trần Gia Phụng ● Nguyễn Phương 
    ● Phùng Quân ● Nguyễn Mạnh Quang 
    ● Võ Văn Sáu ● Nguyễn Tường Tâm ● Minh Tân 
    ● Nguyễn Thái ● Lê Quang Thái ● Nguyễn Hy Thần 
    ● Minh Thạnh ● Cao Huy Thuần ● Ngô Đình Thục 
    ● Văn Thư ● Trần Văn Thưởng ● Trần Tam Tĩnh 
    ● Ngô Đắc Triết ● Nguyễn Quốc Tuấn 
    ● Nguyễn Tường ● Phạm Tưởng ● Hồ Hữu Tường 
    ● Trần Thị Vĩnh Tường ● Lê Tuyên 
    ● Phạm Quý Vinh ● VirtualArchivist ● VTruong 
    ● Huyền Vũ ● Hàn Phong Quốc Vũ ● Nguyễn Hạnh Hoài Vy 
    ● Erich Wulff

    ● 100 Lời phê phán Chế độ Ngô Đình Diệm


    Tuyển Tập Chế Độ Ngô Đình Diệm 50 Năm Nhìn Lại 1963 - 2013




    DẪN NHẬP

    Nửa thế kỷ trước đây, tại miền Nam Việt Nam, một biến cố bi hùng đã làm chao nghiêng lịch sử và trở thành một trong những dấu ấn quan trọng trong dòng sinh mệnh dân tộc vào hạ bán thế kỷ thứ hai mươi. Biến cố đó là sự sụp đổ của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, kéo theo sự phá sản của một sách lược cải đạo cuồng tín ở cấp độ quốc gia của Công giáo La Mã, tại phía Nam của tổ quốc.

    Năm mươi năm đã trôi qua … Một khoảng thời gian đủ dài để có thể soát xét và suy nghiệm xem từ biến cố đó ta rút ra được những bài học lịch sử gì. Trong ý hướng đó, sự hình thành Tuyển Tập nầy là một động thái chủ yếu nhằm đóng góp vào 4 nỗ lực:

    1. Thứ nhất là đúc kết lại thành một chứng liệu lịch sử từ cả hai góc độ chứng nhân và văn bản, đóng góp thêm vào việc kiện toàn các nghiên cứu tương lai về chế độ Ngô Đình Diệm.

    2. Thứ nhì là để làm sáng tỏ một số ngộ nhận dấy lên vì những biến động sau đó trên đất nước ta, khiến sự thật đã vô tình bị biến dạng đàng sau những lăng kính và bụi mù do một số người Việt và người nước ngoài vô tình hay cố ý tạo ra. Ngoài ra, ở trong nước cũng như tại hải ngoại, từ lâu, đã không có một công trình quy mô nào (ngoại trừ của các « sử gia » hoài Ngô) nghiên cứu và trình bày một cách nghiêm túc và cập nhật hơn về chế độ Ngô Đình Diệm. Thậm chí giới sử học trong nước, kể cả và nhất là giới nghiên cứu của Phật giáo, cũng không quan tâm đến vấn đề nầy ! Vô hình chung để trống những trang lịch sử cho giới Công giáo Việt Nam (và những sử gia nhẹ dạ và thiếu tài liệu bị họ mua chuộc) muốn viết gì thì viết …

    3. Thứ ba là nhận diện để phản biện một số xuyên tạc và mạo hóa lịch sử của tàn dư chế độ Diệm tại hải ngoại đang tìm cách đánh tráo sự thật để chạy tội quá khứ và để âm mưu cố gắng thiết lập một chế độ chính trị “Diệm không Diệm” trong tương lai tại Việt Nam. Ý đồ và hành động nầy của Công giáo Việt Nam là một điều đại bất hạnh cho dân tộc. Tại vì tín đồ Công giáo Việt Nam thì luôn luôn đặt sự tồn vong của Vatican lên trên sự tồn vong của Quốc gia, và họ sẽ chỉ vì lợi ích của Công giáo mà đi ngược lại lợi ích của Dân tộc.

    4. Và thứ tư là nỗ lực trao gửi một bài học cho thế hệ tương lai để cảnh giác họ đừng bao giờ để cho một chế độ như chế độ Diệm xuất hiện trên quê hương ta nữa.

    Trong điều kiện hình thành Tuyển Tập nầy, việc thu thập tài liệu và liên lạc với tác giả (các bài viết) là một điều vô cùng khó khăn, hầu như 1à bất khả thi, dù đã sử dụng đến các công cụ tin học. Nhất là khi có bài viết xuất xứ từ trong nước và/hoặc đã được phổ biến (trên báo giấy) từ lâu. Cho nên 106 bài viết của 86 tác giả,và 100 lời phê phán chế độ Ngô Đình Diệm trong Tuyển Tập nầy, dù chỉ là một số lượng rất nhỏ (đã hay chưa được bạch hóa để khai thác) trong hàng núi tài liệu cả trong lẫn ngoài nước, nhưng có lẽ cũng đủ để nhận diện nguyên nhân, mô tả bản chất và đánh giá công tội của chế độ nầy rồi.

    Nội dung các bài viết được phân bố thành 8 Chương là để dễ truy cứu theo từng chủ đề hơn là theo một cấu trúc trình bày nhất định nào đó. Điều nầy, trong không gian và phương tiện của công nghệ tin học, cũng dễ cho Tuyển Tập được cập nhật thêm bài mới (bởi bất kỳ một tác giả mới nào) một cách dễ dàng. Cuối cùng, xin trân trọng cảm tạ những tác giả có bài trong Tuyển Tập nầy. Những vị nầy, đã mất hay còn sống, đa số đã là những chứng nhân và cũng đã là, trong nhiều trường hợp, những nạn nhân, cho nên tiếng nói của họ thì trung thực, cần được phổ biến rộng rãi và bảo lưu lâu dài.


    Đại diện Nhóm Chủ biên

    Lê Trọng Khôi (Mỹ)

    Nguyễn Khắc Hiếu (Pháp)

    Nhằm mục đích góp phần giúp thế hệ trẻ Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại biết rõ lịch sử Việt Nam trong năm 1963 xảy ra như thế nào và nhất là để có nhận thức sâu sắc hơn về điều mà dân tộc đã khẳng định: “Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một”. Cho nên chúng tôi lưu trữ vào Thư Viện Hoa Sen bộ tư liệu nhiều tập liên quan đến sự kiện lớn trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Sự việc này chắc chắn sẽ có những ý kiến ủng hộ và chống đối, nhưng lịch sử vẫn là lịch sử. Ban biên tập website Thư Viện Hoa Sen chân thành cảm tạ Nhà Xuất Bản Thiện Tri Thức Publications đã gửi tặng bộ sách nghiên cứu này cùng với phiên bản vi tính điện tử và trân trong giới thiệu đến toàn thể quý độc gỉa trong và ngoài nước.  Sách thuộc loại NGHIÊN CỨU-KHÔNG BÁN, tuy nhiên, quý cơ quan nghiên cứu, quý quản thủ thư viện các trường cao đẳng, đại học trong nước và hải ngoại muốn có ấn bản giấy, có thể liên lạc với nhà xuất bản THIỆN TRI THỨC PUBLICATIONS P.O.Box 4805 Garden Grove, CA 92842-4805 USA để thỉnh.


    Download phiên bản PDF: 


    Xem online theo bảng mục lục dưới đây

    Dẫn Nhập

    Mục lục

    Chương Một - TỘI TỔ TÔNG - Hể đã Phi dân tộc thì thế nào cũng Phản dân tộc;

    E-book với đinh dạng 3D:

     Nguyễn Mạnh Quang 

     Trần Thị Vĩnh Tường

     Lý Nguyên Diệu

    Trần Tam Tỉnh

     Nguyễn Hạnh Hoài Vy

     Vũ Ngự Chiêu sưu tầm

     Ngô Đình Thục

    Chính Đạo


    Chương Hai – KIM CƯƠNG BẤT HOẠI - Hoa sen trong biển lửa;

    E-book với đinh dạng 3D:

    Avro Manhattan

    Vũ Ngự Chiêu

    Vũ Tài Lục

     Nguyễn Lang

    Erich Wulff

    Chính Đạo

    Lê Cung

     Hoàng Nguyên Nhuận

     Trần Kiêm Đoàn

     Erich Wulff

     Minh Nguyện

     Hàn Phương Quốc Vũ

     Lương Hữu Định

     Nguyễn Lang

     Lê Quang Thái

     Cao Hữu Điền

     Nguyên Ly

     Thái Kim Lan

    Đào Văn Bình

     Trần Chung Ngọc

     Lê Cung

     Cao Huy Thuần


    Chương Ba – LỬA TỪ BI - Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ;

    E-book với đinh dạng 3D:

     Phạm Quý Vinh

     Nguyễn Quốc Tuấn

     Minh Không

    Vũ Văn Mẫu

    Lê Cung


    Chương Bốn – BẢY MỐI TỘI ĐẦU - Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng …;

    E-book với đinh dạng 3D:

     Trần Lâm

     Nguyễn Hy Thần

    Hồ Hữu Tường

     Cao Thế Dung

     “Nhóm Caravelle”

     Lê Xuân Nhuận

     Trần Văn Đôn

     Virtualarchivis

     O.V.V.

     Ngô Diệp

     Nguyễn Phương

     Phan Lạc Giang Đông

     Trần Ngọc Nhuận

     Võ Văn Sáu

    Nguyễn Hiến Lê

     Huyền Vũ

    Vũ Bằng

     Phan Quang Đán

     Tạp chí Góp Gió số 112, 7-2-2003

     Trịnh Bá Lộc

    Phạm Tưởng

    Virtualarchivis

    Bobby Ghosh

    59.  Đại học Huế tranh đấu chống chế độ cũ (Phỏng vấn giáo sư Lê Tuyên, Bách Khoa) 

     Nguiễn Ngu Í

     Virtualarchivis

    Nguyễn Hữu Phiếm

     Khúc Hà Linh

     Nguyễn Tường Tâm

     Vũ Hoàng Chương

     Ngô Đắc Triết và Lý Đương Nhiên

     Hoành Linh Đỗ Mậu

    Lê Chân Nhân


    Chương Năm - BÁNH XE LỊCH SỬ - Thiên thời Địa lợi Nhân hòa;

    E-book với đinh dạng 3D:

    67.  Nam Việt Nam có tồn tại được không ? (Is South Vietnam viable?) 

     Nguyễn Thái

     Nguyễn Văn Bông

    69.  Ngày tàn của nền Độc tài Công giáo (Vietnam - Why Did We Go?, Chương 15) 

     Avro Manhattan

     Hoành Linh Đỗ Mậu

    71.  Cuộc Cách mạng ngày 1-11-1963 (Nguyệt san Minh Tân 25-11-1963) 

     Hội Khổng học Việt Nam

     Lê Mạnh Hùng

     Hoành Linh Đỗ Mậu

     Nguiễn Ngu Í

     Peter Brush

     KHHB

    Văn Thư

     Trần Chung Ngọc

     Nhật báo Chính Luận 22-7-1964

     Lê Xuân Nhuận


    Chương Sáu - MA GIỮA BAN NGÀY - Những ngụy biện và tráo trở lịch sử của tàn dư chế đô Diệm;

    E-book với đinh dạng 3D:

    Phan Ký

    Vtruong2602

     Định Nguyên và Bảo Quốc Kiếm

     Minh Thạnh 

     Lê Xuân Nhuận

     Trần Lâm

     Chính Ðạo Vũ Ngự Chiêu

    Lê Xuân Nhuận

    Lý Nguyên Diệu

    Nguyễn Mạnh Quang

    Nguyễn Trí Cảm

    Trần Gia Phụng

    Lý Nguyên Diệu

     Nguyễn Phan Hoàng

    Nguyễn Trí Cảm


    Chương Bảy - GỬI LẠI NGHÌN SAU – Suy nghiệm vềmột số bài học lịch sử;

    E-book với đinh dạng 3D:

     Lê Nguyên Long

    Quang Phục Võ Văn Sáu 

     Quán Như

    Nguyễn Kha

     Trần Văn Thưởng

     Bùi Kha

     Thomas Ahern, Jr / Nguyễn Kỳ Phong

     Cao Huy Thuần

     Sưu tầm của Lê Xuân Nhuận

    Nigel Cawthorne

     Phùng Quân


    Chương Tám – CHỨNG NHÂN LỊCH SỬ – Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ;

    E-book với đinh dạng 3D:

    Nghìn năm Bia miệng . Một trăm Chứng nhân sống dưới thời Ngô Đình Diệm


    __._,_.___


    Posted by: Phong Vu 

    0 0


    Kính chuyển đến Quý DĐ để xin được giúp Phổ biến.

    TS





    Tìm thân nhân 5 người lính VNCH

    Nơi đây, 5 người lính VNCH nằm lại trên đất bạn Lào đã gần nửa thế kỷ. Dù có đầy đủ thẻ bài nhưng không biết tra cứu quê quán ở đâu. Cũng là người con đất Việt. Cảm thấy đau lòng. Bạn bè gần xa trên face hãy chia sẻ để người thân của họ biết được mà tìm về.
     
    Khu mộ phần chỉ cách cửa khẩu Lao Bảo 17km theo đường chim bay về phía Tây Nam, nhưng để đến được đó, phải đi vòng khoảng 40Km.

    TÌM THÂN NHÂN CỦA HÀI CỐT 5 TỬ SĨ VNCH TẠI HUYỆN MƯỜNG NOÒNG - TỈNH SAVANAKHET – LÀO .

    Trong quá trình san lấp đất, Tập đoàn Thịnh Vượng (Tập đoàn VN đầu tư trên đất Lào) tìm thấy một cụm mộ tử sĩ VNCH, số mộ này có thẻ bài ghi số quân.


    Hiện, tập đoàn này đã lập một nghĩa địa nhỏ ngay khu vực đang xây dựng nông trường trồng cây ăn quả của mình để an táng số hài cốt những tử sĩ VNCH này ( bản Xa Rỷ, huyện Mường Noòng, tỉnh Savanakhet , Lào) chứ không thể đưa số hài cốt này về VN được.

     
    Các anh chị quan tâm có thể gọi cho anh Bùi Quang Tú, điện thoại gọi từ VN sang Lào là : 008562099857860 để liên hệ.
     
    Thông tin trên các thẻ bài:
     https://vietbao.com/images/file/uu9QsFPi1AgBAD05/tim-than-nhan-5-linh-vnch.jpg


    1/ Nguyễn Lô.         SQ xx 202.790     LM
    2/ Trương Lượng.    SQ 57/208 815    LM A
    3/ Ng Van Thanh    SQ 55/2077 90    LM
    4/ Ngo Tan             SQ 58/217455     LM O
    5/ Trương Văn Lễ    (Khó đọc – xin phán đoán trên hình)


    Nguồn : Trương Duệ

    P/s : Mong mọi người chia sẻ bài viết này để thân nhân các anh tìm lại được hài cốt, sớm đưa các anh được trở về yên nghỉ trên quê hương Việt Nam.
    GHI CHÚ: Chữ LM trong thẻ bài là viết tắt Loại Máu (?).



    Tks & Bgs!

    __._,_.___


    Posted by: Truong Son 

    0 0


    From: Tuan Le wrote
    Sent: Wednesday, September 6, 2017 4:15 PM
    Subject: Sự dối trá trắng trợn của truyền thông Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam cuối cùng đã bị bộc lộ/MEDIA'S VICIOUS LIES ON VIETNAM FINALLY EXPLODED


    Sự dối trá trắng trợn của truyền thông Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam cuối cùng đã bị bộc lộ



    Chelsea Schilling * Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) lược dịch - Nào là hình chụp nhà sư tự thiêu gây bàng hoàng cho người Mỹ vào năm 1960. Nào là hình chụp Giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia bắn du kích Việt Cộng ngay tại đường phố Sài Gòn. Nào là hình chụp người con gái nhỏ trần truồng chạy giữa đường, toàn thân bị cháy do bom napalm.


    Đó là hình ảnh của cuộc chiến Việt Nam qua ống kính lệch lạc của giới truyền thông Hoa Kỳ mà ta được biết bấy lâu.


    Hình ảnh người lính Mỹ tại cuộc chiến Việt Nam được giới truyền thông Hoa Kỳ mô tả như là những kẻ nghiện ngập, cuồng sát, giết cả trẻ em. Đồng minh của Hoa Kỳ là chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu chung số phận bị xuyên tạc bởi giới truyền thông Mỹ. Chính thể này cũng được giới truyền thông Mỹ mô tả nào là tham nhũng, hối lộ, hèn nhát và không đáng hay không có chính nghĩa để cho người Mỹ hy sinh bảo vệ.


    Câu hỏi đặt ra là những hình ảnh và những lời xuyên tạc trên nhan nhãn khắp các đài truyền hình tại Mỹ, khắp các tờ báo tại Mỹ có thật sự diễn tả đúng bản chất của cuộc chiến nhằm bảo vệ tự do và ngăn ngừa thảm họa Cộng Sản, cũng như có nói đúng về thảm cảnh mà người Việt phải hứng chịu trước thảm họa này?


    Hai nhà điều hành và sản xuất phim Richard Botkin và Fred Koster đã can đảm nhìn vào sự thật của cuộc chiến khi cho ra cuốn phim tài liệu với tựa đề:Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Victory and Betrayal,” tạm dịch là "Lội ngược dòng oan nghiệt: sự thật về chiến thắng và phản bội trong cuộc chiến tại Việt Nam,” trình chiếu tại Westminster vào ngày 27 tháng Ba năm 2015. Bộ phim đưa ra những mẩu chuyện có thật về tình đồng đội, về lòng quả cảm, về tinh thần quốc gia cũng như sự hy sinh trong cuộc chiến nhằm ngăn chặn Cộng Sản, điều mà giới truyền thông Hoa Kỳ cố tình chối bỏ.


    Botkin thành thật thừa nhận là người dân Mỹ đã bị giới truyền thông Mỹ lừa phỉnh!


    Botkin cho tạp chí mạng Worldnetdaily (www.WND.com) biết như sau: "Những người lính Mỹ chiến đấu tại Việt Nam cũng quả cảm can trường không thua kém gì thế hệ trước của họ khi tham dự đệ nhị thế chiến." Botkin còn cho biết thêm: "Có cả hàng trăm ngàn sĩ quan Hoa Kỳ các cấp phục vụ tại Việt Nam lập nhiều công trạng nhưng chỉ có mỗi một trung úy William Calley là được báo chí bàn đến rầm rộ vì bị kết tội giết 22 thường dân tại làng Mỹ Lai vào ngày 16 tháng Ba năm 1968." 


    Botkin khẳng định: “Chúng ta cần phải nhìn lại vấn đề cho công bằng không thể thiên lệch như vậy."


    Sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt được vài năm, tổng thống Nixson đã phải thở dài mà thừa nhận rằng: "Không có sự kiện nào trong lịch sử nước Mỹ lại bị che giấu dối gạt nhiều như cuộc chiến tại Việt Nam. Một cuộc chiến trước thì bị truyền thông (Mỹ) xuyên tạc, sau thì bị đánh giá thiên lệch."


    Theo như Botkin tâm sự, nhiều bộ phim khác về cuộc chiến tại Việt Nam như: "Apocalypse Now", "The Deer Hunter", "Good Morning, Vietnam,” "Rambo", hay “Full Metal Jacket” cũng chỉ là những bộ phim có tính giải trí mua vui, và những bộ phim này không nêu rõ được những gian lao hung hiểm mà những người lính đã phải chiến đấu hết sức dũng cảm khi đối diện trong nỗ lực ngăn chặn thảm họa Cộng Sản.


    Nhà làm phim Botkin nói: “Giới truyền thông Mỹ đã mô tả những người lính Mỹ tham chiến tại đã bị lừa để đẩy vào cuộc chiến vô nghĩa, để rồi khi những người lính này trở về thì họ bị cả xã hội gạt bỏ quên lãng và bị coi như là công cụ của giới kỹ nghệ sản xuất vũ khí mà thôi. Còn những người Việt Nam đồng minh của chúng ta (tức Việt Nam Cộng Hòa) thì lại còn bị mô tả một cách xuyên tạc nặng nề hơn nữa, nào là tham nhũng, độc tài, hèn nhát, và không đáng để nước Mỹ phải hy sinh cứu giúp "


    Thế nhưng cũng theo nhà làm phim Botkin, cũng là người viết cuốn sách "Lội ngược dòng oan nghiệt" ("Ride the Thunder") để rồi từ đó, cuốn phim tài liệu: "Lội ngược dòng oan nghiệt: sự thật về chiến thắng và phản bôi trong cuộc chiến tại Việt Nam" được dựng lên, sau khi đích thân đi điều nghiên tại những nơi xảy ra giao tranh cũ của Thủy Quân Lục Chiến (của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) cùng các cố vấn Hoa Kỳ trước sự tấn công của Cộng quân, thì lại khẳng định rằng mọi xuyên tạc của giới truyền thông Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng Hòa là hoàn toàn sai!


    Botkin giải thích như sau: "Cuốn phim tài liệu này là cố gắng của chúng tôi nhằm xóa đi hiểu lầm về cuộc chiến Việt Nam do truyền thông (Mỹ) xuyên tạc, trả lại danh dự cho những người lính Mỹ tham chiến và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Cộng Sản là thảm họa cần phải ngăn chận và sự tham dự cuộc chiến của người Mỹ chúng ta là chính đáng."


    Vào thập niên 1970, theo chương trình "Việt Nam hóa chiến tranh" của tổng thống Nixon, Việt Nam Cộng Hòa phải tự mình đương đầu ngăn chặn Cộng quân. Phim của Botkin kể lại câu chuyện có thật bị lãng quên chẳng còn ai biết đến nữa về sự can đảm của những cố vấn Mỹ và những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong một trận đánh chống lại sự tấn công ồ ạt của Cộng quân trong kế hoạch tổng tấn công vào mùa hè năm 1972, cứu vãn cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nhỏ bé này thoát khỏi tình thế nguy ngập. 


    Người thật việc thật - cuốn phim diễn tả lại diễn biến của trận đánh tại Đông Hà, khi Cộng quân với quân số trên 20 ngàn người và 200 chiến xa đã hoàn toàn bị đánh bật lại bởi một lực lượng chỉ có 700 lính thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và vài cố vấn quân sự của Mỹ.


    Do anh dũng chiến đấu và chiến thắng trên chiến trường, những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã phải chịu đựng sự trả thù của Cộng sản bị bỏ đói và lao động khổ sai trong các trại tập trung (không luật sư toà án xét xử) gọi là trại "học tập cải tạo."


    Cuốn phim tài liệu cũng đề cập lại quãng đời học tập cải tạo của Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Lê Bá Bình ở Nam Hà năm 1979. Người thủ vai ông là diễn viên Joseph Hiếu.


    "Chúng tôi mở đầu bằng cuộc đời ông trong trại tù tập trung "học tập cải tạo" rồi từ đó truy ngược về lại quá khứ trước đó của đời ông. Thông qua sự truy ngược đó, chúng tôi dựng lại bối cảnh Việt Nam sau đệ nhị thế chiến, khi ông còn là đứa trẻ. Chúng tôi cũng phỏng vấn những người Mỹ, những người Việt sinh sống cùng thời với ông.”


    Trung tá Bình, một quân nhân thứ thiệt khó ai bì, phục vụ 13 năm trong quân đội và chịu 11 năm tù trong trại tập trung. Bất chấp bao nhiêu lần bị thương và bao nhiêu mất mát, ông vẫn can trường bình thản đối diện oan nghiệt. Ông bị thương chín lần và được thưởng huân chương American Silver Star.


    Botkin giải thích thêm: "Khi chúng ta tham chiến tại Việt Nam, mỗi người lính chỉ ở đó từ 12 tháng đến 13 tháng, nhưng Trung tá Bình thì ở đó đối diện chiến tranh từ đầu cho đến cuối Thông qua cuộc đời của Trung tá Bình, tôi hy vọng người Mỹ chúng ta sẽ thấy sự hy sinh của chúng ta tại Việt Nam là chính nghĩa và cần thiết "


    Khi cuộc chiến đi đến hồi kết thúc, hàng triệu công dân Việt Nam Cộng Hòa chạy giặc tìm đủ cách di tản tị nạn Cộng sản. Bao nhiêu người bị bỏ tù hoặc bị tử hình. Sáng 30 tháng Tư, những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng, kết thúc 21 năm chiến đấu.


    Những diễn viên của cuốn phim này có rất nhiều người là người Việt tị nạn Cộng Sản. Nơi mà cuốn phim này được quay, Southern California (miền Nam tiểu bang California) thực ra cũng đã có 370 ngàn người Mỹ gốc Việt sanh sống mà hầu hết là những người Việt tỵ nạn Cộng sản, cựu chiến binh, thuyền nhân; có gần 200 ngàn người Việt định cư tại Orange County.


    Botkin tâm sự thêm: "Đối với những người Việt hải ngoại tỵ nạn Cộng Sản, kể lại những oan nghiệt từ cuộc chiến mà họ chịu đựng không phải chỉ là để kiếm tiền mà là những nỗi lòng u uất của kẻ mất nước, cảm thấy có trách nhiệm phải nói lên sư thật. Họ chống Cộng tới cùng. Họ chống Cộng vì họ nhìn rõ bộ mặt thật của Việt Cộng. Gia đình thân nhân của họ hoặc là bị giết, hoặc là bị tù đày bởi Việt Cộng. Họ mất tất cả và sẵn sàng bỏ tất cả để có được tự do. Tôi đã hết cách lánh né mà buộc phải nhìn thẳng vào sự thật với lòng cảm thông kính trọng họ."


    Hệ quả của cuộc chiến tại Việt Nam, cũng theo nhà làm phim theo Botkin, đã giúp toàn khối Đông Nam Á và Á Châu né tránh được thảm họa Cộng Sản vốn đang lây lan mạnh lúc bấy giờ cũng như có hòa bình ổn định để phát triển.


    Botkin nói: "Khi chúng ta đổ bộ lên Việt Nam năm 1965, du kích Cộng Sản đã gây rối ở Philippine, Mã Lai, Indonexia và Thái Lan.Nhờ có sự hiện của Hoa Kỳ tại Việt Nam, bất chấp bao nhiêu lời xuyên tạc từ truyền thông như đã nghe đã thấy, đã giúp trì hoãn sự bành trướng của thảm họa Cộng Sản và khiến nền kinh tế của những quốc gia kể trên có thời giờ chấn hưng và phát triển để đủ sức tự mình thoát khỏi ảnh hưởng của Cộng Sản. Tôi hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, không có nỗ lực của người Mỹ chúng ta tham chiến tại Việt Nam thì các quốc gia này không được như ngày nay."


    "Và đối với nước Mỹ chúng ta ngày nay," Botkin bàn thêm, "chúng ta đang loay hoay tìm lấy chính mình. Biết bao nhiêu người Mỹ trong chúng ta nghĩ rằng đất nước mình là một quốc gia ác độc tàn nhẫn (cũng bởi do truyền thông Mỹ gây ra,) nhưng trên thực tế, nước Mỹ chúng ta là ánh sáng của nhân loại, người Mỹ chúng ta là biểu tượng của nhân bản tốt đẹp cho thế giới."


    Rồi ông Botkin khẳng định: "Chúng ta đã cứu thế giới vào thời đệ nhị thế chiến, chúng ta đã cứu Nam Hàn khỏi thảm họa Cộng Sản cũng như đã cố giúp Việt Nam ngăn chận Cộng Sản khi tham chiến ở nơi này.”



    26/5/2017




    MEDIA'S VICIOUS LIES ON VIETNAM FINALLY EXPLODED

    Eye-opening story finally tells truth of America's most controversial war



    CHELSEA SCHILLING


    On June 11, 1963, a Vietnamese Mahayana Buddhist monk burned himself to death at a busy Saigon intersection

    On June 11, 1963, a Vietnamese Mahayana Buddhist monk burned himself to death at a busy Saigon intersection

    South Vietnamese police chief Nguyen Ngoc Loan executes a Viet Cong guerrilla on Feb. 1, 1968

    South Vietnamese Brig. Gen. Nguyen Ngoc Loan, chief of the Republic of Vietnam National Police, executes a Viet Cong guerrilla on Feb. 1, 1968

    The startling images were forever seared into the minds of Americans in the 1960s.

    A monk doused in gasoline and burning to death on a busy Saigon street.

    A South Vietnamese police chief about to pull the trigger of a pistol pointed at a prisoner’s head.

    A naked little girl crying and running from an American napalm strike that left her badly burned.

    It was the Vietnam War as depicted through the skewed lens of America’s media.

    U.S. soldiers were seen as crazed, drug-addicted “baby-killers” and “murderers.” America’s Vietnamese allies didn’t fare much better; they were often portrayed as corrupt, cowardly and unworthy of U.S. troops’ sacrifice.

    Plain Dealer front page reports mass killing of between 347 and 504 South Vietnamese civilians by U.S. Army soldiers on March 16, 1968

    Plain Dealer front page reports mass killing of South Vietnamese civilians by U.S. Army soldiers on March 16, 1968

    But did these images and portrayals – splashed across Americans’ TV screens and newspapers – really represent the true story of Vietnam and the mission to halt the spread of communism?

    Executive Producer Richard Botkin and Producer Fred Koster take a provocative look at the Vietnam War and the troops who fought it in the new documentary film, “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Victory and Betrayal,” set to be released on March 27 in Westminster, California. The movie portrays the inspirational story the media neglected – one of friendship, bravery, patriotism and sacrifice.

    Botkin said, quite frankly, Americans have been duped.

    “The men who served in Vietnam are every bit as great as their dads and uncles who served in World War II,” he told WND, adding that “there were several hundred thousand junior officers who served in the Marine Corps and Army, and yet the only name that is ever recalled is Lt. William Calley,” a former U.S. Army officer found guilty of murdering 22 unarmed South Vietnamese civilians in the My Lai Massacre on March 16, 1968.

    “We’ve got to change that,” Botkin said.

    After the war had been over for several years, former President Richard Nixon lamented, “No event in American history is more misunderstood than the Vietnam War. It was misreported then. It is misremembered now.”

    "Ride the Thunder" scene

    “Ride the Thunder”: Marines in Vietnam

    Many popular films dealing with Vietnam – such as “Apocalypse Now,” “The Deer Hunter,” “Good Morning, Vietnam,” “Rambo” and “Full Metal Jacket” – serve as great entertainment, Botkin said, but they often grossly distort the reality of the warriors who fought courageously to stop the spread of communism.

    Richard Botkin

    Richard Botkin

    “They portray the American fighting man as doped, duped, a victim, in it for the wrong reason. And, when he comes home, he’s definitely marginalized and at the mercy of the military industrial complex,” Botkin said. “And our Vietnamese allies are portrayed even more negatively. They’re portrayed as corrupt, effete, not wanting to fight, not worth fighting for.”

    But Botkin – who also authored the WND book that inspired the movie, “Ride the Thunder,” and has toured former battlefields in Vietnam and chronicled accounts of the Vietnamese Marines and their American Marine advisers – is adamant in his assertion that “those representations are just simply wrong.”

    “The film is our effort to try and right the historical wrongs, to leave a more positive record of the American fighting man and also our Vietnamese allies,” he said. “Communism is evil. We were right to oppose it.”

    Watch the trailer for the film, which will be released on March 27 at the Regency 10 theaters in Westminster, California, where it will be shown eight times a day for a week:

    In the early 1970s, under President Richard Nixon’s “Vietnamization” program, the war was being turned over to South Vietnam. Botkin’s film tells the little-known story of a few courageous American and Vietnamese Marines who fought valiantly to thwart the Communist invasion – nearly saving South Vietnam – during North Vietnam’s all-out attack on South Vietnam from the DMZ known as the 1972 Easter Offensive.

    In a true-life story, the film shows how, when the unrelenting North Viet­namese Army of 20,000 soldiers and 200 tanks reached the bridge at Dong Ha, their offensive was stopped in its tracks by a small force of just over 700 Vietnamese Marines and U.S. military advisers.

    Even though the South Vietnamese Marines had nearly won on the battlefield, they would suffer terribly, starving and spending long years at hard labor after the war as part of the communists’ re-education process.

    Binh

    Actor Joseph Hieu plays Vietnamese Marine Maj. Le Ba Binh (second from left), who is held in a communist re-education camp in this scene from the film, “Ride the Thunder”

    Lt. Col. Le Ba Binh stands in Quang Tri prior to being wounded for the 9th time, 1972

    Lt. Col. Le Ba Binh stands in Quang Tri prior to being wounded for the 9th time, 1972

    The film follows Vietnamese Marine Maj Le Ba Binh, the main character played by Joseph Hieu, during his time at the communist camp in Nam Ha in 1979.

    “We start with him in a re-education camp and having all these flashbacks,” Botkin explained. “During the flashbacks, we go to Vietnam, post-World War II, with him as a boy. We go to all the American people and Vietnamese people who were interviewed and appropriately tell the story through Binh’s life experience.”

    Binh, a man with few equals in the war-fighting profession, served 13 years in heavy combat and another 11 years in prison camps. Despite numerous battle wounds and lost comrades, he showed unwavering courage in the face of extreme hardship. He was wounded nine times and awarded the American Silver Star.

    “When the Americans went to Vietnam, they typically would go for 12 or 13 months,” Botkin explained. “But Binh was there for the whole thing. It’s through him that we tell the story, hoping to make the Americans see that their sacrifice was justified.”

    Scene from "Ride the Thunder"

    “Ride the Thunder”: Communist re-education camp

    As the war ended, millions of displaced Vietnamese citizens fled the communist invasion. Hopeless citizens faced imprisonment and execution. On the morning of April 30, 1975, the Vietnamese Marine Corps ceased to exist after 21 years of combat.

    The film cast includes many Vietnamese refugees. In fact, the location of the film’s premiere, Southern California, is home to about 370,000 Vietnamese Americans, many of whom are first-generation immigrants, refugees or war veterans from the former South Vietnam. Nearly 200,000 Vietnamese Americans live in Orange County.

    “For them, telling the story has become more than just a job. It really is something they passionately believe in,” Botkin said. “All of these people are strongly anti-communist. They’re passionate, because they’ve suffered at the hands of communists. Their families have been killed or brutally tortured. They risked a lot and paid a heavy price for their freedom. I have nothing but respect for them.”

    "Ride the Thunder"

    “Ride the Thunder”: Communist re-education camp

    As for the U.S. mission in Vietnam, Botkin said the effort bought time for the rest of developing Asia to grow free of communist influence.

    “When we went ashore in 1965, there were active communist insurgencies in the Philippines, in Malaysia, in Indonesia, Thailand,” he said. “The American effort – for all its flaws that people point out – stalled the communist expansion and allowed those economies time to grow. I just don’t think there’s any question that our effort was the right one.”

    As for America’s reputation today, Botkin said, “We’re fighting a battle for our nation’s soul. People think America is a bad country. But America is the light of the world. We’re the good guys.

    “We were the good guys in World War II. We were the good guys in the Korean War. And believe it or not, we were the good guys in Vietnam.”


    "Ride the Thunder"

    “Ride the Thunder”: Victory near the Dong Ha bridge



    For more options, visit https://groups.google.com/d/optout.



    Virus-free. www.avast.com

    __._,_.___


    Posted by: hungthe <

    0 0




    Hậu Quả Của Việc Hoa Kỳ Bỏ Rơi Đông Dương

    Giáo su Robert F. Turner

    EmailIn

    Hậu Quả Của Việc Hoa Kỳ Bỏ Rơi Đông Dương

    Author: Giáo su Robert F. Turner

    Posted on: 2017-09-06

    Giáo sư Robert F Turner Trung tâm an Ninh Luật Pháp Quốc Gia Đại Học Luật Khoa Virginia & Học Viện Hải Quân.

    (Trích trong “những sự thật về Chiến Tranh Việt Nam)

    ôi là một sinh viên trong số tương đối ít ỏi đã thực tin rằng việc chống Cộng sản xâm lược là việc đúng của Hoa kỳ ở Việt Nam, Lào, Cambodia là đúng.

    Tôi lần đầu đến Việt Nam trong một giai đoạn ngắn khi là phóng viên năm 1968, rồi quay về đi lính, bắt đầu chức vụ Trung úy rồi sau lên Đại úy rồi trở lại đó hai lần làm việc tại một bộ phận của toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, là Văn phòng Nghiên cứu về Bắc Việt và Việt Cộng. Tôi có cơ hội được đi tới nhiều địa phận tại Việt nam, khoảng 44 tỉnh thành, có chỗ chỉ đi ngang qua. Tôi được qua Lào, Cambodia. Sau khi giải ngũ tôi gia nhập Hoover Institution, tôi đã viết cuốn sử quan trọng đầu tiên bằng tiếng Mỹ về “Cộng sản Việt Nam”

    Trong hơn hai chục năm, tôi đã có nhiều khóa giảng dạy tại viện Đại học Virginia về Chiến tranh Việt Nam. Vì thời giờ có hạn, tôi phải nói ngắn, nhưng trước khi đề cập tới chủ điểm của bải thuyết trình, tôi xin có thêm một lời cảnh báo, nhất là với các khán thính giả trẻ tuổi.

    Rằng đa số lập luận “sáng suốt phổ biến” của người Mỹ về Chiến tranh Việt Nam thật ra lại không đúng. Rất đáng tiếc rằng điều ấy có nghĩa là đa số những gì được giảng dạy tại cấp trung và đại học lại gần với thần thoại hơn là lịch sử. Tôi chi xin đơn cử hai thí dụ, hai thí dụ quan trọng:

    1- Ngày nay, chúng ta được nghe rằng cuộc chiến Việt Nam là “bất khả thắng”. Chúng ta đứng sai chỗ. Tôi xin được góp tiếng bên cạnh nhiều sử gia thuộc loại xuất sắc nhất ngày nay khi nêu lập luận ngược rằng chúng ta không chỉ hy vọng thắng mà thực tế đã thắng vào đầu thập niên 1970. (Và khi nói “chúng ta”, tôi không nghĩ rằng đấy là Quân lực Hoa Kỳ mà là nỗ lực chung của hai quân đội miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ cùng với người dân miền Nam).

    2- Chuyện gì đã xảy ra? Khi tôi tuyên bố là có thể thắng. Tôi xin đưa câu nói của người bạn thân Douglas Pike: ông Douglas Pike đã quá vãng, người mà tôi hoán đổi công vụ nhiều lần trong Sứ quán Hoa Kỳ, ông Pike nói rằng: Tôi tin rằng chúng tôi có thể đã thắng cuộc chiến Việt Nam. Tôi tin rằng trong tương lai lịch sử sẽ nói rằng chúng ta đã thắng. Đó là sự thật.

    Một số thí dụ sau đây sẽ chứng minh.

    Có một bài viết trong báo Foreign Affairs năm 2004 do Giáo sư John Lewis Gaddis Khoa trưởng Americạn Diplomatic Historians nói rằng: Các sử gia hiện tại công nhận rằng miền Nam Việt Nam và đồng minh đã thắng cuộc chiến quân sự. Nhưng lại thua cuộc chiến tâm lý tại Mỹ. Tôi xin nhắc lại cho quý vị trẻ biết sau khi bị bỏ bom tơi bời, Hà Nội vội vã trở lại đàm phán tại Paris. Và mọi chuyện êm xuôi nếu chúng ta dùng máy bay B52 để trấn giữ hiệp định.

    Nhưng quốc hội với áp lực của “Phong trào Hòa Bình” đã thông qua dự luật vào tháng năm 1973. Sẽ là bất hợp pháp nếu Tổng Thống sử dụng bất cứ đồng nào trong công quỹ cho cuộc chiến tại Việt Nam, Lào và Cambodia. Làm như vậy, Quốc hội đã chuyển thắng thành bại. Quốc hội phản bội lời cam kết lịch sử của Hoa Kỳ là bảo vệ các nước không Cộng sản tại Đông Dương. Lúc ấy tôi làm việc tại Thượng nghị viện, nghị sĩ Ted Kennedy tuyên bố rằng “Việt Nam không cần giúp đỡ, họ đã có lượng vũ khí trị giá vô số triệu đô la”. Đó là sự thật. Việt Nam có phi cơ trực thăng, xe tăng Hoa Kỳ. Nhưng cái mà họ không biết là, Việt Nam không có đạn, không có xăng. không có phụ tùng. Đống đồ đó trở nên vô dụng. Đây là câu chuyện tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe. Ngay sau khi sơ tán từ Việt Nam về tới Mỹ, tôi gặp Nghị sĩ Ted Kennedy tại Thượng Nghị Viện. Đó là lần đầu tiên tôi gặp ông ấy khi trở về Mỹ.

    Ted Kennedy

    Ông ấy đứng cách tôi khoảng 3 mét. Tôi cung tay phải lên và tự nhủ: “mình phải cho nó biết tay, phải đấm gục hắn ta và nói chothế giới biết rằng chúng tôi vừa mới phản bội chính danh dự của mình và bỏ rơi những người đáng yêu.”

    Nhưng tôi đã tự cản bản thân mình vì làm vậy sẽ ảnh hưởng đến cương vị Nghị sĩ của tôi và Ted Kennedy sẽ trở thành người hùng. Không phải là việc làm đúng đắn nhưng đôi lúc tôi nghĩ là mình đã bỏ rơi cơ hội ấy.

    Sau khi Quốc Hội cắt hết viện trợ cho Việt Nam, Trung cộng gia tăng viện trợ cho Hà Nội. Phạm Văn Đồng nói rằng: “Được cho kẹo tụi nó cũng không dám quay lại”. Đó là lý do của sự thất bại tại chiến trường Việt Nam.

    Quân nhân Mỹ, QLVNCH, và miền Nam Việt Nam không bị bại trận, mà thua vì cái gọi là “tự do” của Quốc hội Hoa Kỳ.

    Điềm thứ 2 tôi muốn đưa lên là: Việt Nam rất quan trọng. Họ cho rằng Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến “phi lý” tiến hành không lý do chính đáng, do hiểu lầm về vụ đụng độ không đáng kể ở Vịnh Bắc Bộ. Thật sự là ngớ ngẩn.

    Tôi đã viết 450 trang trình bày trong luận án đạt giải danh dự năm 1966. Tôi đã ghi lại vào tháng Năm 1975 đảng Lao động của Cộng sản Việt Nam đã quyết định từ Tháng Năm năm 1959 là mở ra đường mòn Hổ Chí Minh và gửi vào Nam nhiều ngàn lính và vô số chiến cụ với mục đích lật đổ chính phủ trong Nam. Đây là hành động xâm lược quốc tế và vi phạm Hiên chương Liên hiệp quốc. Hoa Kỳ tham chiền để giúp người dân miền Nam tự vệ vì cùng một lý do như việc chúng ta tham chiến tại Cao Ly, nhằm bảo vệ tự do của con người và thực thi việc chống xâm lược đã được ghi trong Hiến chương Liên hiệp quốc.

    Trong cuốn sách “Cộng sản Việt Nam” xuất bản năm 1975, Hà Nội đã nhiều lần xác nhận sự thực đó từ Tháng Năm năm 1959 ngay ngày sinh nhật Hồ Chí Minh. 10 năm trước, chúng tôi đã thảo luận tại Đại học Luật Virginia về vấn đề hợp pháp này. Luật quốc tế và Hiến chương Liên hiệp. Không thể thảo luận nổi vì Hà Nội lập luận rằng đó là nội chiến trong miền Nam VN v.v… hãy bỏ qua 1 số điểm vì thời gian có hạn.

    Tôi nêu lên hậu quả của việc bỏ rơi VN.

    Tôi có thể nói hoài về việc người Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Tôi là người đứng ngay trong trận khi Quốc Hội biểu quyết không giúp đỡ Angola vì sự xâm lăng của Xô Viết. Kết quả nạn nhân bị tử vong ở đấy được ước lượng là không dưới trăm ngàn người.

    Đến việc Liên Xô xâm chiếm Afghanistan khiến cả triệu người chết. Sẽ không xảy ra nếu chúng ta không rút lui.

    Và lần đầu tiên trong sáu chục năm, Moscow bảo với tay sai của họ ở Mỹ châu La Tinh rằng tiến hành “đấu tranh võ trang” để cướp chính quyền thì cũng được, từ đấy mới xảy ra nội chiến tại El Salvador, Nicaragua, Honduras, Guatemala, Costa Rica và các nước khác trong vùng. Vô số người lại thiệt mạng vì chuyện đó Một số lớn súng M16 tịch thu được từ quân phiến loạn El Salvador, căn cứ theo số xê ri là súng bỏ lại tại chiến tranh VN của quân đội Mỹ. Hà Nội đã cung cấp cùng với Xô Viết qua đường Cuba rồi đưa lậu qua El Salvador.

    Cho những người nói chiến tranh VN là phi lý. Họ đã sai.

    Nhưng hôm nay tôi không muốn tập trung về các vấn đề dù rất quan trọng là địa dư chiến lược. Tôi muốn nói về hậu quả của quyết đinh của Hoa Kỳ đối với con người. “Phong trào hòa bình” – của phe phản chiến – trấn an chúng ta rằng Hoa Kỳ chỉ cần rút quân và chấm dứt chiến tranh thì mình sẽ phát huy “nhân quyền” và “ngăn nạn tàn sát”. Tôi rất ngại nói về những gì xảy ra tại Việt Nam sau khi Hoa Kỳ triệt thoái, vì trong hội trường này và tại khu “Little Sàigon” có nhiều người đã trực tiếp nếm mùi và biết rõ hơn những gì mà mọi “học giả” Mỹ có thể muốn biết. Nhưng có một số sự thật thì đã rõ ràng.

    Hãy trước tiên nói về nhân quyền. Tháng Tư năm 1975, khi sự chiến thắng của Cộng sản đã thành hiển nhiên cho mọi người, Đệ nhất Bí thư đảng Lao Động là Lê Duẩn đã tuyên bố rằng: sau khi “giải phóng” Miền Nam, chúng ta sẽ biến nhà tù thành trường học”. Tới Tháng 10 năm 1978, nhật báo Times đầy uy tín tại Luân Đôn đã báo cáo sự thật: Cộng sản Việt Nam đã biến nhà trường và cô nhi viện thành nhà tù vì họ có quá nhiều tù nhân.



    Cọng Sản đã biến trường học thành nhà tù

    Điều 11 của Hiệp định Paris ký kết năm 1973 cấm “mọi hành vi trả thù hay kỳ thị các cá nhân hay tổ chức đã hợp tác với một phe bên này hay bên kia”, và còn rõ ràng bảo đảm quyền tự do báo chí, tôn giáo, tự do sinh hoạt chính trị và một loạt những quyền thiêng liêng khác. Vậy mà Tháng Năm năm 1977, tờ Quân đội Nhân dân công khai thông báo “triệt để cấm mọi hành vi chống lại chế độ và tước hết mọi quyền tự do của những kẻ không tin vào xã hội chủ nghĩa”. Bài báo tuyên bố: “Với bọn phản cách mạng… nhân dân ta dứt khoát xoá bỏ quyền tự do ngôn luận và trừng phạt đích đáng”.

    Sau đó, một dân biểu duy nhất của Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa được phép tham gia cái gọi là “Quốc hội Thống nhất” đã tuyên bố: Chế độ mới cai tri bằng bạo lực và khủng bố. Không có tự do di chuyển hay lập hội; không có tự do báo chí hay tự do tôn giáo hay… cả quyền tự do có ý kiến riêng… Sự sợ hãi tràn ngập khắp nơi”

    QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ

    Tháng Chín năm 1970, Trưởng phòng Sài Gòn của tờ Christian Science Monitor là Daniel Sutherland- ông bạn của tôi vào thời ấy – có viết một bài dài về “quyền tự do báo chí” trong Nam. Ông viết: “Dưới bộ luật báo chí mới, Miền Nam bây giờ có một nền báo chí thuộc loại tự do nhất Đông Nam Á…”. Tôi tin chắc rằng mình không là người duy nhất trong hội trường này có thề xác nhận điều ấy. Riêng Sài Gòn thì đã có hơn ba chục tờ báo, và nhiều tờ trong số đó kịch liệt chống chính phủ.

    Dĩ nhiên là để thu thập dữ kiện về quyền tụ do ấy, tôi thường cầm máy ảnh lang thang trong Sài Gòn vào những chiều Chủ Nhật được nghỉ. Tôi thấy bày bán công khai những quyển sách như “Chiến tranh Nhân dân và Quân đội Nhân dân” của Tướng Võ Nguyên Giáp là cuốn chỉ nam về nổi dậy của Việt Cộng, vài cuốn của lãnh tụ cộng sản Cuba là Ché Guevarra, và cả các cuốn sách về cái tốt của Mao Trạch Đông. Sau ngày gọi là “giải phóng”, người Cộng sản chiếm đóng đã “tạm thời” đình chỉ xuất bản mọi tờ báo hay tạp chí độc lập. Chưa đầy một tháng sau, mọi tiệm sách báo đều bị đóng cửa và việc mua bán hay tàng trữ các văn hoá phầm xuất hiện “dưới chế độ cũ!” đều bị cấm.

    TÙ CHÍNH TRỊ

    Một trong các vấn đề nặng nề nhất là những người chống Việt Nam thường nêu ra, là cái gọi là “chế độ phát xít” tại miền Nam đã giam giữ hơn 200 ngàn “từ chính trị”. Khi trở lại Đông Dương vào Tháng Năm 1974 – cũng là dịp thăm viếng Cam Bốt và Lào – tôi chú trọng đến việc điều tra những lời cáo giác trên.

    Tôi ghé thăm Linh mục Chân Tín, nổi danh lãnh tụ của “lực lượng thứ ba” nhưng có lẽ là một cán bộ của Hà Nội. Tôi hỏi ông là tìm đâu ra con số “200 ngàn tù nhân chính trị?” Ông ta bảo rằng mình đã hỏi các tù nhân cũ và gia đình thân nhân của họ là họ nghĩ xem có bao nhiêu tù nhân. (Tôi nghi là họ đã cộng lại tổng số của các câu trả lời). Sự thật thì thời đó chỉ có khoảng 35 ngàn tù nhân trong tất cả các nhà tù của Miền Nam.

    Robert Kennedy bị ám sát

    Tôi cũng gặp một lãnh tụ khác của “lực lượng thứ ba” là bà Ngô Bá Thành, người nói với tôi rằng định nghĩa của bà về “tù nhân chính trị” có thể gồm cả những người như Sirhan. Sirhan là tay cán bộ người Palestine đã ám sát nghị sĩ Robert Kennedy vào tháng Sáu năm 1968. Mục đích của hắn, bà Ngô Bá Thành giải thích, là “chính trị” khi hắn ám sát một ứng cử viên Tổng thống rất nổi tiếng của Hoa Kỳ .

    Rồi còn vụ “chuồng cọp” đầy tai tiếng tại Côn Sơn, được họ mô tả như sau: , "… xà lim chôn dưới mặt đất với các đống sắt, đồng trên trần thay vì ở dưới. Mà trần xây thấp đến nỗi tù nhân không thể đứng được …”

    ."… những hố nhỏ được đào dưới đất và che bằng chấn song sắt.”

    – “[Mấy hầm đó] quá hẹp cho những người Việt Nam dù thấp bé cũng không thể nằm duỗi thẳng và trần quá thấp nên tù nhân khó có thể đứng thẳng người”. Thật ra, tôi có đến đảo Côn Sơn và thăm những chuồng cọp này. Tôi nghĩ rằng chúng ta cùng đồng ý là tôi hơi cao hơn đa số người Việt Nam. Vậy mà tôi chưa thể với tới các chấn song trên trần – vốn cao tới ba thước (khoảng 10 bộ) kể từ mặt đất lên.

    Ngay cả lực sĩ Nghiêu Minh (Yao Minh) người Tầu – tay trung phong của đội bóng rổ Rocket’s ở Houston bên Texas – cũng chỉ cao tới bảy bộ và sáu phân – hơn hai thước hai – nên anh ta cũng chẳng gặp khó khăn gì đề duỗi dài trong căn xà lim một bề thước rưỡi một bề ba thước của cái gọi lả “chuồng cọp”.

    Ít nhất, một số cán bộ chống Việt Nam đã từng cáo giác chuyện “chuồng cọp” biết là họ nói láo. Trước khi qua Việt Nam năm 1974, tôi nói với một người trong số này rằng tôi dự tính sẽ tới nhà tù Côn Sơn để tự minh xem tận mắt và anh ta có vẻ khó chịu – có lẽ biết rằng tôi sẽ thấy sự thật. Anh ta nói rằng vấn đề thật bây giờ chính là tại nhà tù Chí Hòa ở Sài Gòn.

    Vì vậy sau khi thăm Côn Sơn, tôi xin phép vào xem nhà tù Chí Hòa và chưa đầy 48 tiếng sau đã được tới đó trong mấy tiếng đồng hồ. Đây không là nơi mà mình thích sống nhưng cũng chẳng tệ hơn đa số các nhà tù và bên trong tôi không thấy dấu vết gì của những sự lạm dụng phổ biến. Tôi nói riêng với vài người Mỹ đã từng ở trong này và họ nói rằng dù có nghe nhiều lời tố cáo nhưng tất cả đều cho biết là họ không hề nghe thấy “tiếng gào thét trong đêm vắng” hoặc được báo cáo về nạn tra tấn hay hành hạ tù nhân.

    NGĂN CHẬN TÀN SÁT

    Bi thảm nhất của những người chống Việt Nam là lý luận của họ, rằng cắt viện trợ cho Miền Nam là Hoa Kỳ sẽ “ngăn được nạn tàn sát”. Họ sai lầm tới chừng nào. Ông bạn Giáo sư R.J. Rummel của tôi (một người từng được tuyển liên tiếp cho giải Nobel Hòa Bình) ước lượng là tổng số người bị giết sau khi miền Nam được “giải phóng” lên tới 643 ngàn.

    – Khoảng 100 ngàn bị xừ tử qua quít ngay sau khi Cộng sản nắm quyền. Qua quít vì cũng chẳng có một hình thức tạm bợ về “tiến trình hợp pháp” hay một toà án.

    – Giáo sư Rummel cho là 400 ngàn là “thuyền nhân” bị chết ngoài biển cả khi muốn thoát khỏi chê độ độc tài và đàn áp đã trùm lên quê hương. Cao ủy Ty nạn của Liên hiệp quốc thì cho là một phần ba những người vượt biên bằng thuyền đã chết ngoài biển – một số là vì tầu quá đông người bị chìm, hoặc chết vì đói, vì khát. Nhiều người tử nạn sau khi bị hải tặc cướp bóc và cưỡng hiếp. Cao ủy cũng tường trình rằng có khoảng 840 ngàn người tới được Hong Kong hay các nước không Cộng sản ở Đông Nam Á. Nếu áp dụng tỷ số “chết một phần ba” cho con số này thì ta đoán là có một triệu 300 ngàn người vượt biên bằng thuyền và khoảng 420 ngàn người đã chết trên đường tìm tự do. Con số không xa với ước lượng của Giáo sư Rummel.

    Giáo sư Lewia Sorley, tác giả cuốn sách có giá trị của một dấu mốc là “A Better War” – một Cuộc Chiến Khá Hơn – mà tôi ân cần giới thiệu đến quý vị, cho rằng có chừng 250 ngàn sĩ quan và binh lính của miền Nam cũ đã chết trong các “Trại Cải Tạo” do chế độ Cộng sản lập ra.

    – Khoảng một triệu rưởi người dân miền Nam bị đày vào các khu “Kinh Tế Mới” để sống trong những điều kiện nghiệt ngã và chừng 48 ngàn đã chết tại đấy. Tôi biết rằng rất đông người trong cộng đồng này có thể kể lại những kinh nghiệm thật về “Trại Cải Tạo” và khu “Kinh Tế Mới” và khuyên các sinh viên ở đây nên tìm ra họ, ghi nhận câu chuyện của họ để làm chứng liệu cho lịch sử.

    CĂM BỐT

    Và còn chuyện xứ Căm Bốt nữa. Khi Tổng thống Nixon gửi quân đội Hoa Kỳ sang Cam Bốt vào năm 1970 đề yêm trợ các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa, khuôn viên các Đại học Mỹ bị đóng vì những cuộc phản đối đầy bạo động chống lại vụ xâm lược “phi pháp”. Thật ra, về pháp lý thì y như Việt Nam, Căm Bốt là “quốc gia thành viên của Nghị định thư” – Protocole States – đã được cam kết bảo vệ chống Cộng sản xâm lăng trong khuôn khổ Hiệp ước SEATO năm 1954. Mười năm sau, và với tỷ lệ đầu phiếu là 99,6%, khi Quốc hội Hoa Kỳ cho phép Tổng thống Johnson tham chiến tại Đông Dương. quy chế ấy hoàn toàn có thể áp dụng cho Căm Bốt như cho Việt Nam và Lào. Nghị quyết ấy của Quốc hội chỉ cần dẫn chiếu “Protocole States” của hiệp ước SEATO (South East Asia Treaty Organization). Tôi thăm viếng Căm Bốt nhiều lần trong năm 1974 và trong nhiều năm đã viết về Khờme Đỏ

    Thời ấy, việc họ là những kẻ sắt máu có dự tính tàn sát không tưởng tượng nỗi với đồng bào Khờme của họ thật ra chẳng còn là bí mật. Và dĩ nhiên, khi tôi trở lại Việt Nam vào Tháng Tư năm 1975, một trong những mục tiêu chính của tôi là đễ cố gắng cứu lấy đám trẻ cô nhi tại Căm Bốt. Tôi đến quá trễ và có lẽ những đứa trẻ tôi hy vọng cứu được chắc là đã chết.

    Không hề có một cuộc khảo sát dân số tại Căm Bốt và chẳng ai biết thực sự có bao nhiêu người đã sống tại nơi ấy. Con số ước đoán về nạn nhân có những dị biệt lớn, với một số chuyên gia thì cho lả có hơn hai triệu. Tài liệu khảo cứu khá nhất mà tôi được đọc là của Đại học Yale, nơi mà Chương trình của Yale về nạn Diệt chủng Căm Bốt ước tính là Pol Pot và bọn đao phủ của hắn đã thảm sát một triệu bảy trăm ngàn người – hơn 20% dân số toàn quốc.

    Một bài báo về “các vùng thảm sát” của Căm Bốt trên tạp chí National Geographic Today trong số tháng Giêng năm 2004 cho chúng ta những chi tiết này: “Nhân viên hướng dẫn giải thích rằng đạn quá quý để dùng cho việc tàn sát. Rìu, dao và gậy tre thật đắc dụng hơn. Còn về trẻ em thì bọn đồ tể chỉ đơn giản quật chúng vào thân cây”.

    Ông Douglas Pike đã quá vãng, người mà tôi hoán đỗi công vụ nhiều lần trong Sứ quán Hoa Kỳ, có viết như sau về hậu quả nhân sinh của việc Hoa Kỳ bội ước sự cam kết của mình là sẽ bảo vệ người dân của các nước không cộng sản ở Đông Dương: “Dù có ước lượng dè dặt nhất, thường dân Đông Dương bi bạo sát sau Chiến tranh Việt Nam nhiều hơn là tổng số nạn nhân chết trong thời chiến, ít ra là hơn hai triệu… Nỗi khổ đau lên tới mức chưa từng thấy, còn thê thảm hơn những ngày chinh chiến”.

    Thật bi đát vì tôi nghĩ rằng ông Pike có lý. Và tôi lại càng tin rằng cộng đồng tại đây, đôi khi ngay trong hội trường, có những người có thể cung cấp những dữ kiện trực kiến về thảm kịch nếu như ta muốn tìm đến họ và ghi nhận lời chứng của họ. Việc này thì chẳng ai có tâm trí bình thường lại thích làm, nhưng là điều mà những ai muốn truy lùng sự thật tới cùng vẫn có nhiệm vụ thực hiện. Chúng ta phải kể lại chuyện này – một cách chính xác và cẩn trọng – để người khác sẽ biết rất lâu về sau, khi các nhân chứng cuối cùng không còn tại thế nữa. Chúng ta phải kể lại, nếu không chuyện đó sẽ lại tái diễn.

    Những ai thấy bàng hoàng về những chuyện đã xảy ra khi Cộng sản khống chế người dân Miền Nam và của Căm Bốt hay Lào thật ra không hiểu gì về lịch sử hiện đại. Nếu quý vị muốn biết rõ hơn về thảm kịch, tôi xin đề nghị tập sách do nhà Harvard University Press xuất bản có tên là “The Black Book of Communism” – Cuốn Hắc thư về Chủ nghĩa Cộng sản. Do một nhóm trí thức Âu Châu thuộc khuynh hướng trung tả biên soạn, cuốn sách kết luận là trong thế kỷ 20, chủ nghĩa cộng sản quốc tế đã gây ra cái chết cho từ 80 đến 100 triệu sinh linh.

    Những ai muốn biết sâu xa hơn về Chiến tranh Việt Nam có thể còn bị lầm lạc lớn nếu không chịu khó tìm đọc các cuốn sách do chư vị diễn giả nơi đây hoặc bằng hữu của chúng tôi đã biên soạn.

    Đây là một vinh dự cho tôi khi được thuyết trình trước một cử toạ quan trọng như hôm nay và trong cơ hội long trọng này. Với những người giận dữ về sự bội phản của nước tôi 35 năm về trước, xin cho tôi được nói rằng sự giận dữ này cũng là sự giận dữ của bản thận tôi. Tôi yêu quý Hoa Kỳ và tin rằng đây là một xứ tuyệt vời nhất trên địa cầu. Nhưng khi đa số của Quốc hội phản bội nạn nhân của Cộng sản xâm lược, họ cũng phản bội 58 ngàn 200 lính Bộ binh, Hải quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã dâng hiến mạng sống trong sự hy sinh cao quý nhất cho chính nghĩa này. Họ cũng phản bội sự hy sinh của hai triệu bảy trăm ngàn người Mỹ đã từng phục vụ tại Việt Nam từ năm 1959 cho đến 1975.

    Chúng ta không cải sửa được điều ác đã xảy ra. Nhưng chúng ta có thể nghiên cứu nó và có thể hành động để người Mỹ chúng ta lánh xa truyện thần thoại sai lạc mà hiểu rõ thảm kịch lớn lao của sự bội tín. Tôi thiết tha kêu gọi giới trẻ trong cử toạ nơi đây là hãy tự nguyện giành một chút cố gắng để học hỏi trang sử này và chịa sẻ với người khác. Quan trọng nhất, hãy chú ý đến các cựu chiến binh và những người sống sót trong cộng đồng, hãy ghi lại lời kể của họ khi mình còn cơ hội. Nếu mình làm được như vậy thì may ra những hy sinh lớn lao của thảm kịch bi đát này sẽ không bị uổng phí.

    Xin cảm tạ quý vị và cầu xin Thượng Đế sẽ phù hộ chúng ta ./

    ----------






    Virus-free. www.avast.com

    __._,_.___


    Posted by: hungthe

    0 0


    Bi có nhng cu con hoang dt nát như Aladin Qut Lôi Phong nên cn phi dy dthiên h m mang trí óc cho đến nơi đến chn. Ko chúng c làm chuyn di dt người ngoài chê dân Vit Nam ngu dt tôn my tên phn quc lên làm thy, làm cha. Bn bài đó nói v nhiu người chđâu phi riêng Trương Vĩnh Ký. Cu bé Aladin biết không : Thiên hkhông chu ni nhng s tht mà thy Gai Cát nói ra,  viết ra nên ch có cách ba đt, ngy tao, ghép ba tên nào tht xu cho Kim Âu nhưng đi nhân này đâu có xem ra gì chng qua chúng nó hc bn Vit cng gi VNCH là NGY thôi. Đy là nguyên nhân mà Kim Âu ta không coi nhng li bá láp, xo sđó là gì c. Sao bây gi thì hc được chuyn Ngô Đình Kh gây ra ác nghip ri ch.

     Cu chđáng tui con ta thôi, ăn nói mt dy din đàn coi cu là th con hoang vô giáo dc thôi. Aladin canh me vượt biên đến đo có mt thân mt mình, mi 13, 14 tui nay xây dng được gia đình là may ri. C gi cái tâm cho ngay thng kéo lãnh nghip báo như  Tú Gàn nói đó. Thy không Tú Gàn cũng b b giò tp tnh, gìa khú đế cũng phi ráng lò mò làm bi bút kiếm cơm. Din đàn ch là phương tin chuyn ti nên nó rt bn nếu có ch din đàn ngu như Aladin thì ch